Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự Kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự Kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

THĂM SOCHI, NƠI DIỄN RA OLYMPIC MÙA ĐÔNG

[Mực tàu] - Nằm phía cực nam của Nga (gần biên giới Georgia), Sochi là thành phố lớn thứ hai của vùng Krasnodar Krai, cách Moscow khoảng 1.600 km. Thành phố này được mệnh danh là thủ đô mùa hè của “xứ sở Bạch Dương” hay Hòn Ngọc Biển Đen.
Sochi nhìn từ Biển Đen

Vùng đất Sochi hàng ngàn năm trước đã được các bộ lạc tại vùng núi Caucasia cư trú. Lịch sử và văn hoá vùng này chịu ảnh hưởng từ nhiều nền văn minh khác nhau như Hy Lạp, La Mã, Byzantine, Abkhazia và Ottoman
Nhà ga Sochi

Đế chế Nga đã đến vùng đất này và thống trị nơi đây vào thế kỷ thứ 19. Trong thế kỷ thứ 20, nơi đây được xây dựng thành khu vực nghỉ dưỡng, du lịch của Liên Xô và hiện nay là Nga
Cảng biển Sochi

Hàng năm có hàng ngàn du khách đổ về đây, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9. Du khách đến đây không chỉ được thưởng thức khí hậu đầy nắng của vùng khí hậu hạ nhiệt đới nhưng không thiếu những ngọn núi phủ đầy tuyết.

Địa điểm thi đấu Olympic mùa đông 2014 tại Sochi

Một trong những khu vực phủ tuyết tại Sochi dành cho các môn thể thao mùa đông

Sochi cũng là nơi stalin chọn xây dinh thự của mình, nơi ông thường xuyên tiếp các đoàn khách nước ngoài đến thăm. Hiện nay, trong toà nhà này còn có bảo tàng lưu giữ nhiều kỷ vật của stalin
Dinh thự mùa hè của Stalin

Thăm Kranaya Polyana (Đồng cỏ đỏ)
Từ nơi này có thể nhìn  toàn cảnh đến dãy núi Caucasus tráng lệ, lộng lẫy.

Thác nước Agura

Đi dọc theo hẻm núi để khám phá ra vẻ đẹp tuyệt vời của thác nước này, chỗ cao nhất có thể lên đến 90 bộ



Công viên nước Sochi

Vườn thực vật học Dendrary

Hang động Vorontsovka nổi tiếng tại Sochi
http://chuyendaungo.blogspot.com/2017/05/sao-thuy-di-vao-kim-nguu-mang-cac-chom-sao-quay-lai-quy-dao-hoc-tap.html

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

68 năm, Bác Hồ với cuộc Tổng Tuyển cử 6-1-1946 và bản Hiến Pháp đầu tiên


Hình ảnh Bác Hồ bỏ phiếu ngày 6/1/1946

 [Mực Tàu]- Lịch sử hơn nửa thế kỷ qua đã chứng tỏ việc Bác Hồ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa I trong tình thế đất nước Ngàn cân treo sợi tóc, rồi sau đó lại nhanh chóng cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là những quyết định cực kỳ sáng suốt và dũng cảm. Những quyết định đó không thể nào sớm hơn được, nhưng để chậm hơn thì tình thế sẽ vô cùng khó khăn phức tạp.

Trong một hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: Hồ Chí Minh là con người của những quyết định lịch sử.

Ngày 3-9-1945, một ngày sau Ngày Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác Hồ đã nói với các vị Bộ trưởng, Thứ trưởng:

Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…

Ngày 8-9-1945, một tuần sau Ngày Tuyên bố độc lập, Bác đã ký Sắc lệnh số 14 Quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước.

Trong lịch sử hiếm có một quốc gia nào vừa mới giành được độc lập với bao khó khăn đang chồng chất lại dám tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ như nước Việt Nam ta hồi ấy. Thấy một số người có vẻ lo lắng về trình độ nhân dân, sợ Tổng tuyển cử không đạt kết quả, Bác khẳng định: “Nhân dân ta sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình, Tổng tuyển cử nhất định sẽ thành công”.

Ngày 31-12-1945, Bác viết bài đăng trên Báo Cứu quốc số 130: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài để gánh vác công việc của Nhà nước…
Trong Tổng tuyển cử, hễ ai là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử, không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội cử ra Chính phủ, Chính phủ thực sự là Chính phủ của toàn dân…”

Ngày 10-12-1945, danh sách các ứng cử viên đã được niêm yết rộng rãi. Tại Hà Nội có 74 ứng cử viên để bầu 6 đại biểu, Bác là ứng cử viên ở Hà Nội.

Chiều 5-1-1946, Bác đến Khu học xá (nay là Đại học Bách khoa), cùng với các ứng cử viên ra mắt gặp gỡ cử tri. Trước đông đảo quần chúng Bác nói với các ứng cử viên: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung…” Rồi hướng đến cử tri Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện quyền dân chủ của mình”.

Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành và thành công trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ cử tri đi bầu ở các địa phương đạt từ 65% đến 95% và đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội (Bắc Bộ 152, Trung Bộ 108, Nam Bộ 73).

Ngày 6-1-1946, đã trở thành ngày hội của cả nước, ngày hội non sông. Tưng bừng nhất vẫn là ở Thủ đô Hà Nội. Toàn thành phố có trên 187.000 cử tri thì 172.765 cử tri đã đi bầu. Bác Hồ được trúng cử với số phiếu cao nhất 97% .

Không phá hoại được Tổng tuyển cử, bọn phản động lại quyết tâm ngăn không cho Quốc hội họp được, hoặc nếu họp thì cũng không đạt được kết quả. Chúng trắng trợn đòi giành 70 ghế trong Quốc hội. Vì lợi ích chung của toàn dân tộc, Bác Hồ đã thuyết phục được các đại biểu chấp thuận yêu cầu đó.

Ngày 2-3-1946, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa I long trọng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Cũng như các Đại biểu khác, Bác Hồ mang thẻ Đại biểu số 305.

Trong bản báo cáo ngắn gọn trước Quốc hội, Bác nói: “Cuộc Quốc dân đại biểu đại hội này là lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam ta. Nó là kết quả của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, mà cuộc Tổng tuyển cử lại là kết quả của sự hy sinh tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta… gồm tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh, không sợ nguy hiểm, tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc… Trong cuộc toàn quốc đại hội đại biểu này, các đảng phái đều có đại biểu, mà các đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế cho nên các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. (HCM toàn tập trang 187 - 190).

Sau gần một ngày làm việc khẩn trương căng thẳng, kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa I đã thành công tốt đẹp. Bằng uy tín tuyệt đối của mình, Bác Hồ đã đứng ra thành lập Chính phủ chính thức và được toàn thể Quốc hội phê chuẩn.

Một thành tựu có tính chất lịch sử nữa mà Bác Hồ đã để lại cho chúng ta ngày nay là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Bác là Trưởng ban Ban dự thảo. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã nhiều lần nói đến việc phải xây dựng một chính quyền của dân, do dân, vì dân. Nhưng thiết lập và xây dựng chính quyền đó không thể chỉ bằng kêu gọi và giáo dục mà phải bằng mô hình và cơ chế. Bởi vậy cần thiết phải sớm có một bản hiến pháp, mà muốn có hiến pháp phải có Quốc hội. Hiến pháp là biểu hiện tập trung nhất ý chí của một dân tộc, kỷ cương của đất nước.

Chỉ một tháng sau khi giành được chính quyền, ngày 20-9-1945, Bác Hồ đã lý Sắc lệnh 34, thành lập Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 7 người: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiển, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu.

Với trí tuệ uyên bác, với quan điểm lấy dân làm gốc, Bác đã đưa ra bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với những điểm ngang tầm với nền chính trị tiên tiến trên thế giới, nhiều điểm còn giá trị mang tính thời sự cho đến ngày nay mà Hiến pháp năm 1992 đã kế thừa và phát triển (Võ Nguyên Giáp - Hồi ký).

Sáng ngày 28-10-1946, Quốc hội Khóa I, kỳ họp khóa hai khai mạc trọng thể tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đến ngày 9-11-1946 với 240 phiếu thuận, hai phiếu chống, Quốc hội đã nhất trí chuẩn y Hiến pháp chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong buổi kết thúc kỳ họp Quốc hội, Bác đã nói về bản Hiến pháp mới: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới Nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó đã tuyên bố cho thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của mọi công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng các giai cấp…”

Chỉ trong vòng một năm trời, với vô vàn những khó khăn thử thách, với tài ba chèo lái của Bác Hồ: “Quốc hội Liên hiệp toàn dân đoàn kết được thành lập, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ liên hiệp chặt chẽ các đảng phái yêu nước kiên quyết chỉ huy cuộc kháng chiến, những kẻ thực dân ngoan cố nhất và cả những người ủng hộ chúng cũng phải chùn bước”. (Vũ Đình Hòe - Hồi ký).
Những quyết định thiên tài của Bác mãi mãi sáng ngời trong lịch sử Việt Nam ta.
                                                                               Theo vannghedanang.org.vn

6/1/1946 - 6/1/2014, tầm vóc một dân tộc!



Bác Hồ chụp ảnh cùng Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ công hòa
[Me Lo] - Vẫn còn nhớ nhà thơ Xuân Diệu đã viết: 
“Cái thủa ban đầu dân quốc ấy
Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên”.
Tháng 8 năm 1945, một mùa thu lịch sử của toàn dân tộc Việt Nam, khi nước ta giành được độc lập, chính thức đập tan ách xiềng xích nô lệ dưới thời thực dân pháp gần 100 năm và chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế trong gần 1000 năm. Ngày 2/9 năm ấy  Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây không phải là sự kiện đặc biệt của dân tộc ta mà nó có ý nghĩa to lớn cho toàn thế thới, nó khơi dậy làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn khắp 5 Châu. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, chính quyền  lâm thời của ta còn non trẻ và xét về lý thì chưa hợp pháp. Xuất phát từ yêu cầu cách mạng, thực tiễn đấu tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng lớn ngay sau đó, một cuộc cách mạng dân chủ. Cuộc cách mạng tiến hành tổng tuyển cử bằng phổ thông đầu phiếu để lập ra nhà nước dân chủ nhân dân. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, ai từ 18 tuổi trở lên đều được thực hiện quyền công dân. 

Ngày 5.1.1946  không ai trong mỗi người dân Việt Nam lúc đó không nhớ câu nói của Bác “Ngày mai chúng ta hãy tỏ cho thế giới thấy rằng! chúng ta một lòng đoàn kết”.Với ngôn ngữ hào hùng, ngôn ngữ để toàn dân tộc Việt Nam được thấy rằng: họ không còn phải chịu dưới ách thống trị của thực dân nữa, lúc này họ làm chủ đất nước, họ có quyền quyết định đất nước.

Trong bối cảnh khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, các thế lực bên trong đòi chống phá chính quyền, các thế lực bên ngoài lăm le muốn xóa tan chính phủ, Bác và nhân dân Việt Nam đã quyết tâm làm một cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, thể hiện một tầm vóc dân tộc Việt Nam, được thế giới ghi nhận trên chính trường quốc tế. 

Ngày 6.1.1946 đã ghi dấu một ngày hạnh phúc của đồng bào ta, một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng quyền dân chủ của mình. Với trên 80% cử tri, có nơi là 95% cử tri thực hiện quyền công dân của mình đã cho thấy cách mạng một bước đi phi vũ trang- bước đi bằng từng lá phiếu của công dân, bằng chính ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Bước đi đó đã buộc các thế lực thù địch phải chấp nhận một sự thật về sự tồn tại mạnh mẽ, không  non yếu của một nhà nước, một dân tộc có 4000 năm lịch sử.

Từ Tổng tuyển cử năm 1946 đã khai sinh ra Quốc hội Việt Nam, khai sinh một Nhà nước kiểu mới. Đặc biệt hơn hơn, từ một dân tộc nô lệ, lầm than, từ đây hai chữ Việt Nam, Nhà nước hợp pháp và dân chủ nhân dân của Việt Nam có địa vị ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới qua Tổng tuyển cử - như Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. 

Cũng trong thời điểm đó Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ Lincoln đã chủ trương xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân, thì ở bên kia nửa vòng trái đất xa xôi, một nhà nước non trẻ ra đời đã cho toàn thế giới thấy được tinh thần ấy. Tư duy ấy là nước cờ cao tay để ngăn bàn tay của Mỹ - Pháp và các thế lực xâm lăng khác. Nước cờ ấy đẹp như nước cờ khôn khéo, mềm dẻo chấp nhận làm đồng minh để đuổi 2 vạn quân Tưởng…

Thành quả này, đã cho thấy danh dự của dân tộc, tư cách của dân tộc. Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên  ấy đã mang tầm vóc của một cuộc cách mạng dân chủ, tầm vóc của một dân tộc nhỏ bé về diện tích nhưng to lớn về tinh thần đoàn kết.

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Quốc hội thông qua Hiến pháp sửa đổi

(Dân trí) - Với 486/488 đại biểu tán thành, chỉ 2 đại biểu không biểu quyết, không có đại biểu nào không tán thành, Quốc hội vừa thông qua bản Hiến pháp sửa đổi.
Trước khi các đại biểu bấm nút, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, mỗi đại biểu sẽ thực hiện ý chí nguyện vọng, thay mặt toàn dân quyết định về việc thông qua dự thảo Hiến pháp, biểu quyết toàn văn Hiến pháp.
Kết quả, 486/488 đại biểu tán thành (chiếm 97,59% tổng số đại biểu). Chỉ 2 đại biểu không biểu quyết, không có đại biểu nào không tán thành.

Kết quả biểu quyết thông qua Hiến pháp mới (Ảnh: Việt Hưng)
9h45 sáng 28/11, Quốc hội đứng dậy vỗ tay chào mừng bản Hiến pháp mới.

Đại biểu Quốc hội nhấn nút biểu quyết thông qua bản Hiến pháp mới (Ảnh: VPQH)
Trước đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần sau chót để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Về chương Chế độ chính trị, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định “khối đại đoàn kết toàn dân tộc” là nền tảng của quyền lực nhà nước”. UB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp nhận định, quy định nước CHXHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ đã thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta.
Theo đó, Điều 2 như thể hiện trong dự thảo Hiến pháp với khẳng định về nền tảng vững chắc của chính quyền nhân dân là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã thể hiện bản chất của Nhà nước. Đây là vấn đề đã được thể hiện trong Cương lĩnh và thực tiễn hoạt động của Nhà nước. Còn ý “đại đoàn kết toàn dân tộc” là một trong những động lực rất quan trọng để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Do đó, quy định này được giữ nguyên trong bản dự thảo cuối cùng trình Quốc hội thông qua.
Điều 4 về vai trò lãnh đạo của Đảng được bổ sung quy định về trách nhiệm của Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nội dung về bản chất của Đảng cũng được bảo lưu: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu: "Không cần thiết quy định chi tiết về kinh tế nhà nước trong Hiến pháp". (Ảnh: Việt Hưng)
Các vấn đề liên quan đến quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, trước hết, trong chương Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết, các đại biểu Quốc hội đều tán thành với quy định về Chủ tịch nước tại Điều 88 của Dự thảo. Theo đó, Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại, thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Một số ý kiến đề nghị làm rõ hơn vị trí, thẩm quyền của Chủ tịch nước trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta; làm rõ hơn vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang của Chủ tịch nước.
Tiếp thu ý kiến này, bản dự thảo sau cùng đã làm rõ thêm thẩm quyền của Chủ tịch nước trong từng lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp và quy định mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội, Chính phủ, cơ quan tư pháp. Đồng thời, Dự thảo đã làm rõ hơn vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang của Chủ tịch nước trong việc quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam…; cùng với đó là bổ sung quy định thẩm quyền của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch quyết định việc lực lượng vũ trang nước ta tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng, ông Lưu khái quát, tuyệt đại đa số kiến tán thành với quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội và đồng tình với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ quy định tại Điều 96 của Dự thảo.
Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định nhằm phân biệt rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong việc đề xuất, xây dựng chính sách trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc tự mình quyết định theo thẩm quyền. Nội dung này đã được bổ sung vào khoản 2 Điều 96.
Có ý kiến đề nghị làm rõ thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng trong việc đàm phán, ký và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế. Dự thảo Hiến pháp cũng được chỉnh lý theo hướng phân định rõ thẩm quyền của tập thể Chính phủ trong việc tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ và thẩm quyền của Thủ tướng trong quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Về các thành phần kinh tế, Phó Chủ tịch Uông Chu Lưu cho biết, vẫn có ý kiến đề nghị bỏ quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” hoặc quy định cụ thể nội hàm của kinh tế nhà nước.  
Ông Lưu cho rằng, để bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta thì việc quy định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là cần thiết, khẳng định vai trò của Nhà nước và kinh tế nhà nước trong việc định hướng, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quy định như vậy không ảnh hưởng đến sự vận hành của nền kinh tế thị trường và vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế khác.
Mặt khác, kinh tế nhà nước là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều yếu tố, nguồn lực, trong đó doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong nhiều yếu tố đó. Do vậy, nội dung này được xác định không cần thiết phải quy định chi tiết về kinh tế nhà nước trong Hiến pháp. Việc xác định nội hàm kinh tế nhà nước sẽ được cụ thể trong các đạo luật liên quan.
Về thu hồi đất, cơ quan giải trình phân tích, trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay, vẫn cần thiết phải thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, để tránh tình trạng thu hồi đất tràn lan, tùy tiện, Hiến pháp cần quy định việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội gắn trực tiếp với các mục tiêu vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Do đó, cơ quan giải trình đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội nhưng thể hiện lại cho gắn kết với mục tiêu lợi ích quốc gia, công cộng.
Chương Chính quyền địa phương (một vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau nhất qua các lần thảo luận), UB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp nhận định, cần quy định khái quát theo hướng: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”.
Việc tổ chức HĐND và UBND cụ thể ở từng đơn vị hành chính sẽ được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở tổng kết việc thực hiện chủ trương của Đảng thí điểm một số nội dung về tổ chức chính quyền đô thị và kết quả tổng kết thực hiện Nghị quyết 26 của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và các nguyên tắc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương. 
“Chốt” lại vấn đề phúc quyết Hiến pháp, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu phát biểu, thực tiễn lập hiến ở Việt Nam cho thấy, nhân dân tham gia vào tất cả các công đoạn của quy trình lập hiến, từ việc tổng kết thi hành Hiến pháp đến việc xây dựng và tham gia ý kiến vào Dự thảo Hiến pháp trình Quốc hội thông qua. Do đó, về thực chất, Dự thảo Hiến pháp trước khi trình Quốc hội thông qua đã thể hiện ý chí và trí tuệ của nhân dân. Vì vậy, Hiến pháp đã giao Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân quyết định việc trưng cầu dân ý.
Trưng cầu ý dân về Hiến pháp là việc hệ trọng nên cần phải được cân nhắc một cách toàn diện, phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng giai đoạn phát triển của nước ta. Do đó, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đề nghị Quốc hội cho giữ quy định “Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” để kết hợp giữa thẩm quyền của Quốc hội và chủ quyền của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp.

Toàn văn Hiến pháp sửa đổi được trình bày trước khi Quốc hội bấm nút biểu quyết.

P.Thảo