Hiển thị các bài đăng có nhãn Viết Về Đảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viết Về Đảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

Sức mạnh của Đảng là nhân dân


Tác giả : Vũ Thạch

Đảng muốn tồn tại thì phải ở trong lòng dân, dựa vào nhân dân để làm nên mọi thắng lợi. Sức mạnh của Đảng là sức mạnh vô địch của nhân dân. Trong mọi hoàn cảnh, điều kiện dù có khó khăn gian, khổ nhưng khi nhân dân chung tay, giúp sức cho Đảng thì thắng lợi sẽ trong tầm tay. Chính vì vậy Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xứng đáng với sự tin yêu mà nhân dân đã dành cho Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Sức mạnh của Đảng là nhân dân

Cách mạng tháng 8- 1945 đã cho thấy sức mạnh to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. một cuộc tổng động viên cả dân tộc xuống đường, cầm vũ khí giành lại cơm áo, tự do. Tất cả yêu thương thù hận suốt bao năm nô lệ, khổ đau đã trở thành động lực cho cả dân tộc vùng lên sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng dấn thân. Đảng lúc này còn non trẻ, còn nhiều thiếu sót nhưng đã sớm lấy nhân dân làm lẽ sống, làm mục đích cho mọi đường hướng. Phụng sự dân tộc, phục vụ nhân dân, chiến đấu cho lợi ích của nhân dân đã là nguyên tắc xuyên suốt có tính chất nền tảng của Đảng, chính vì thế nhân dân đặt trọn niềm tin vào Đảng, che chở cho Đảng và cùng Đảng vượt qua những thời khắc hiểm nghèo của lịch sử. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước với tư tưởng của Bác: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong ” mối quan hệ giữa  Đảng và dân càng bền chặt, càng được củng cố và thắng lợi là kết quả cuối cùng. Bài học lịch sử đã cho thấy: cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân.
          Trong sự nghiệp đổi mới cùng với việc đề ra đường lối và các chính sách đúng đắn, Đảng luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, gắn liền với sức mạnh thời đại, tạo ra nguồn lực to lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã ghi: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính người dân là người làm nên thắng lợị lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước. Đảng chỉ mạnh khi giữ được mối quan hệ máu thịt với nhân dân và có được niềm tin của nhân dân là có được thắng lợi trong tầm tay.
          Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  có những thuận lợi mới, thời cơ mới, thực lực và sức mạnh mới nhưng cũng không thiếu nhiều thách thức mới. Đảng ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa, đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 




Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Hoàn thiện hiến định về nhân quyền


QĐND - Nhân quyền, hay là quyền con người là tổng hợp các quyền và tự do không thể bị tước đoạt; phản ánh giá trị nhân phẩm của con người; thể hiện nguyện vọng của toàn nhân loại muốn có được tất cả những tiền đề, điều kiện cần thiết cho một cuộc sống đầy đủ của con người; là vấn đề quan hệ cá nhân với Nhà nước, con người với quyền lực; là công cụ để mỗi người tự bảo vệ các quyền của mình trước cường quyền và bạo lực.
Trong lịch sử nhân loại, bản “Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền” ngày 10 tháng 12 năm 1948 của Liên hợp quốc là "hiến pháp" đầu tiên của toàn nhân loại công nhận con người có các quyền về dân sự, chính trị và về kinh tế, xã hội, văn hóa. Đây là lý tưởng chung nhất mà các quốc gia, dân tộc phải đạt tới và là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình thế giới. Gần 60 năm qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc Việt Nam đã vượt qua bao thử thách, khó khăn của chiến tranh ác liệt, nghèo đói và lạc hậu để tạo dựng nên nền tảng vững chắc cho một xã hội thực sự công bằng, dân chủ, văn minh, mà ở đó các quyền tự do cơ bản của con người được bảo vệ và không ngừng phát triển, theo đúng như tinh thần của “Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền”.

Hoàn thiện hiến định về nhân quyền

Bất cứ ai sinh ra đều có những quyền không thể chối cãi

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980. Trong Hiến pháp năm 1992, quyền con người được quy định tại Chương V (từ Điều 49 đến Điều 82) đã tạo nền tảng pháp lý cho việc bảo đảm và thực thi quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng, các quy định về quyền con người trong bản Hiến pháp năm 1992 đã bộc lộ một số hạn chế cần tiếp tục bổ sung, sửa đổi.
Dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần này tiếp tục khẳng định ý chí và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thực hiện quyền con người, điều này được thể hiện rõ trong việc bổ sung quyền con người vào cùng quyền và nghĩa vụ công dân, đưa vị trí của những nội dung quan trọng này từ Chương V lên vị trí thứ 2 sau Chương I về "Chế độ chính trị" để tương xứng với vị trí, tầm quan trọng của chế định về quyền con người, vừa phù hợp với thông lệ luật pháp quốc tế.
Dự thảo đã bổ sung một số quyền mới, lược bỏ các nội dung không phù hợp, xác định rõ trách nhiệm Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân. Việc thiết kế các quy định tại Chương II mang tính khoa học đồng thời phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Tuy nhiên, Chương II về "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân" vẫn còn một số điểm chưa thực sự hoàn thiện đó là: Dự thảo chưa bao quát được hết các chủ thể chính của quyền con người, quyền công dân; đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương. Trong khi nhấn mạnh về quyền trẻ em và phụ nữ, dự thảo lại chưa đề cập đến đối tượng người khuyết tật và người cao tuổi. Thực tế cho thấy, do điều kiện mức sống ngày càng tăng, số người cao tuổi trong xã hội ngày càng nhiều. Ước tính ở nước ta người cao tuổi hiện chiếm khoảng 30%. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có gần 7 triệu người khuyết tật. Đây chính là những đối tượng nên nhắc tới với tư cách là những chủ thể quan trọng của quyền con người và quyền công dân.
Việc liệt kê quyền công dân tại Khoản 1, Điều 27 như: “Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” vừa dài dòng lại chưa bao quát đủ đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh. Bởi trong xã hội hiện đại, giới tính của công dân hiện nay đang là vấn đề khá phức tạp, nhạy cảm. Bên cạnh những người định rõ giới tính thì cũng có những người “phi giới tính”, trong khi họ vẫn có quyền công dân. Mặt khác, bên cạnh các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình còn có các mặt như: Quốc phòng, anh ninh; dân tộc, tôn giáo… Do đó cần thiết kế lại Điều 27 một cách ngắn gọn và bao quát hơn.
Điều 21 quy định: "Mọi người đều có quyền sống”, nếu đối chiếu điều này với Điều 3 trong “Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền” ngày 10 tháng 12 năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc thì quy định như trên chưa diễn tả được hết ý nghĩa, nội hàm của quyền công dân. Nên chăng cần viết lại để "quyền được sống" là quyền cố hữu của con người, phải được pháp luật bảo vệ và không ai có thể bị tước đoạt mạng sống của người khác một cách tùy tiện và vô lý.
Dù còn một số nội dung cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện nhưng có thể khẳng định những nội dung quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân tại Chương II, dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần này đã thể hiện những tiến bộ vượt bậc trong tư duy lập hiến của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và thực thi tốt quyền con người, quyền công dân chứ không phải như một số thế lực thù địch vẫn rêu rao rằng: "Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền".
Thượng tá, Thạc sĩ  TRẦN VĂN DŨNG (*)                  
(*) Chủ nhiệm Bộ  môn Nhà nước và Pháp luật, Khoa CTĐ, CTCT -Học viện Lục quân
Theo Quân Đội Nhân Dân Online




Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Quyền lãnh đạo của Ðảng là sự tín nhiệm, thừa nhận của nhân dân


Hơn 80 năm qua, những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử của dân tộc Việt Nam đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đó là sự thật không ai có thể bác bỏ. Sự đúng đắn đó thể hiện trước hết ở mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát trong sáu chữ "độc lập - tự do - hạnh phúc", và ngày nay trong bước phát triển mới của lịch sử, đó chính là mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"...

Quyền lãnh đạo của Ðảng là sự tín nhiệm, thừa nhận của nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân, đế quốc. Tư tưởng của Người về cách mạng giải phóng dân tộc là nền tảng và gắn liền với quá trình xây dựng đường lối, lãnh đạo đấu tranh của Ðảng Cộng sản Việt Nam, gắn liền với lịch sử hiện đại của đất nước. Tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển, bổ sung, hoàn thiện qua mỗi giai đoạn lịch sử thông qua việc kết hợp lý luận với thực tiễn, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và đã trở thành đường lối của Ðảng, được hiện thực hóa trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Con đường cách mạng giải phóng dân tộc mà Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn không theo lối mòn, mà đó là chiến lược luôn luôn phát triển trong sự tiếp thu, có phê phán và chọn lọc, hướng tới mục tiêu triệt để là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Hồ Chí Minh đã thể hiện sự độc lập sáng tạo và cả sự dũng cảm trong tư duy, hành động của mình khi khẳng định rằng: Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nhân dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa. Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, giành độc lập, giải phóng dân tộc thành công sẽ tạo tiền đề để tiến lên giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Ðộc lập dân tộc phải được xem là mục tiêu chủ yếu, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng ở các nước thuộc địa mà Việt Nam là một trường hợp điển hình.
  Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam - đây là điểm khác biệt với lịch sử hình thành các Ðảng Cộng sản ở những nước khác. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Ðảng đã tập hợp được lực lượng đông đảo nhất, huy động được sức mạnh đoàn kết to lớn nhất để bảo đảm giành thắng lợi. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc (chân chính) là động lực lớn của đất nước và khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng của liên minh công - nông và trí thức là lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam, đại đoàn kết là một chiến lược cách mạng.
  Lý luận cách mạng tiên tiến, khoa học là điều kiện cần cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, điều kiện đủ không thể thiếu là phải xây dựng được một Ðảng cách mạng vững mạnh, với đội ngũ cán bộ cách mạng trung kiên, đủ nhiệt tình và năng lực đưa lý luận cách mạng vào thực tiễn đấu tranh. Hồ Chí Minh đã chuẩn bị "mảnh đất" để gieo những "hạt giống đỏ" đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, từng bước đưa tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin bén rễ vào thực tiễn cuộc đấu tranh ở Việt Nam. Nhìn lùi về lịch sử hơn 80 năm, chúng ta càng thấy rõ hơn sự năng động, sáng tạo, nhạy bén kịp thời, vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với việc tổ chức Hội nghị hợp nhất thành lập Ðảng - sự kiện mang tính bước ngoặt trong phong trào cách mạng Việt Nam và lịch sử dân tộc nói chung, cũng như các cống hiến quan trọng của Người về mặt lý luận, đường lối cho Ðảng. Chúng ta cũng thấy rõ hơn tư duy sáng tạo, vượt trước thời đại của Người đã góp phần định hướng đúng đắn cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
  Quan điểm về Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời là đảng của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh đưa ra lần đầu tiên trong Báo cáo chính trị đọc tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Ðảng (3-1951): "Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân, và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Ðảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Ðảng của dân tộc Việt Nam" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, NXB CTQG, H.2011, tr 41). Hồ Chí Minh nêu luận điểm: Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng của giai cấp công nhân "phải là" Ðảng của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam khi Người bàn đến và nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của Ðảng trong khi gánh vác các nhiệm vụ mà cách mạng đặt ra. Quyền lợi của giai cấp công nhân Việt Nam nằm trong và đồng hành với những quyền lợi của dân tộc. Ðiều này luôn phù hợp trong tất cả các giai đoạn cách mạng. Thực tiễn lịch sử cho thấy, khi Ðảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ điều này trong việc xác định mục tiêu của cách mạng cũng như khi xác định trận tuyến, bố trí lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thì cách mạng Việt Nam phát triển, đạt rất nhiều thắng lợi.
  Ðảng là một bộ phận của nhân dân, phân biệt với bộ phận còn lại ở tính cách mạng, tính tiên phong, tính tổ chức của mình. Ðảng là người lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành lấy những quyền lợi của mình và là người bảo vệ kiên quyết nhất đối với các lợi ích của nhân dân. Những điều này nêu bật tính nhân dân của Ðảng, cũng như nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít Ðảng với nhân dân - quan hệ tạo nên cội nguồn sức mạnh vô địch của Ðảng. Ðảng đại diện cho lợi ích của người lao động trong xã hội, tranh đấu nhằm đạt mục tiêu mang lại lợi ích cho số đông quần chúng chứ không phải chỉ cho một nhóm nhỏ nào. Mọi hành động của Ðảng đều tuân theo, nhằm thực hiện những ý nguyện của toàn dân như Hồ Chí Minh nhấn mạnh với các cán bộ, đảng viên: "Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, NXB CTQG, H.2011, tr.289).
  Chính vì thế, quyền lãnh đạo của Ðảng là dựa trên sự tín nhiệm của nhân dân. Quyền ấy được nhân dân trao cho. Sự tín nhiệm đó có được từ sự đúng đắn của đường lối, chính sách ở tầm vĩ mô, từ sự gương mẫu hy sinh, phấn đấu của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị của mình, trong đó có sự hòa đồng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa quyền lợi của giai cấp và lợi ích của toàn thể dân tộc. Bản chất giai cấp của Ðảng được thể hiện rõ ở mục đích lý tưởng cao đẹp của Ðảng giải phóng giai cấp khỏi mọi xiềng xích áp bức, bóc lột, ở sự kiên định phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng đó. Tuy nhiên, giai cấp công nhân ở Việt Nam có những đặc điểm riêng của mình. Xem xét những đặc điểm riêng đó với tính lịch sử của nó có thể lý giải thêm quan điểm của Hồ Chí Minh nêu lên từ năm 1951, đại ý: Ðảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Ðảng của dân tộc Việt Nam. Ðiều đó hoàn toàn tương đồng với luận điểm của C. Mác và F. Ăng-ghen đã nêu trước đó hơn 100 năm, khi hai ông cho rằng giai cấp vô sản ở mỗi nước trong quá trình đấu tranh giành chính quyền về tay mình cần "phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc" (Mác - Ăng-ghen Toàn tập, tập 4, NXB CTQG, H.1995, tr.624). Theo quan điểm đó, Ðại hội lần thứ XI của Ðảng khẳng định: "Ðảng Cộng  sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc". (Ðiều lệ Ðảng Cộng sản Việt Nam - NXB CTQG, H.2011, tr.4).
  Ngọn cờ chính nghĩa thể hiện khát vọng về quyền lợi thiêng liêng, chính đáng của dân tộc, của con người về một xã hội mới dân chủ và công bằng, bình đẳng và tự quyết, không có sự áp bức nô dịch dân tộc, không có sự phân biệt đối xử giữa con người,... đã được Ðảng Cộng sản Việt Nam giương cao trong cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ của nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc và chống lại các thế lực xâm lược. Trong công cuộc Ðổi mới, từ đổi mới tư duy, Ðảng đã tìm được con đường và những bước đi thích hợp để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, từng bước tiến lên, tích cực, chủ động hội nhập để phát triển đi vào chiều sâu, bền vững trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn của một thế giới đầy biến động. Ðể đảm đương được vai trò lãnh đạo, Ðảng ta thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong; xây dựng Ðảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có tầm cao trí tuệ, có phương thức lãnh đạo khoa học... Những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, xác lập được vị thế ngày càng quan trọng trong các quan hệ quốc tế và khu vực. Sự thật ấy bác bỏ ý kiến của một số cá nhân đang cố tình hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình phát triển đất nước.
THIÊN PHƯƠNG
Theo Nhân Dân Online



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Không ai có thể phủ nhận vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam !


Sau khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố và kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân được triển khai, cho đến nay, nhiều ý kiến đóng góp sâu sắc mang tính xây dựng của nhân dân cả nước được công bố trên hệ thống truyền thông. Tuy nhiên, nhân cơ hội này, qua một số diễn đàn trên internet, blog và cơ quan truyền thông nước ngoài, một số cá nhân lại đưa ra ý kiến thiếu khách quan, thiện chí. Bức xúc trước thực tế đó, ngày 18-2 vừa qua, bạn đọc Trung Thành - hiện  sống tại Mỹ, đã gửi bài viết này tới Báo Nhân Dân. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc.
Không ai có thể phủ nhận vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam !

Không ai có thể phủ nhận vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam !
Hơn 10 năm trước, vì lý do gia đình, tôi tới định cư tại nước Mỹ. Tuy sống xa quê hương, nhưng tôi vẫn luôn coi mình là người Việt Nam, tôi vẫn không quên công ơn của chế độ mới. Vì như cha tôi bảo, nếu không có cách mạng, có lẽ tôi vẫn chỉ là người nông dân nghèo ở một làng quê nghèo, như cha tôi, ông tôi mà thôi. Hướng về Tổ quốc, tôi thật sự mừng vui khi đất nước phát triển và tôi chạnh buồn khi đất nước gặp khó khăn. Những ngày qua, khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố, đọc trên internet tôi thấy có một số người ở trong và ngoài nước mượn danh "yêu nước", "vì dân tộc" để công bố ý kiến trên các báo ở hải ngoại và blog của cá nhân, từ đó dấy lên một làn sóng xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ Ðảng, Nhà nước, chế độ xã hội ở Việt Nam. Tôi thấy, một trong các tâm điểm các bài viết họ đăng tải là tập trung chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCS Việt Nam) đã được ghi trong Hiến pháp. Tôi rút ra nhận xét là: Trước khi đề cập đến vấn đề "đa nguyên, đa đảng" ở Việt Nam, tác giả của các bài viết này thường "dạo nhạc" trước bằng cách hết lời ngợi khen nền dân chủ phương Tây, họ cho rằng, xã hội các nước phương Tây, với "đỉnh cao" là Mỹ, là "chuẩn mực" về dân chủ. Họ còn cho rằng, về mặt xã hội, chỉ có "đa nguyên, đa đảng" mới thật sự có dân chủ; ngược lại, xã hội duy trì theo cơ chế độc đảng lãnh đạo sẽ dẫn đến mất dân chủ, "độc tài", "đảng trị"!?
Dù sống xa Tổ quốc, nhưng tôi vẫn thường xuyên cập nhật tình hình quê nhà, nên không lạ gì ý kiến mà họ đưa ra, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, đó vẫn là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có bài viết làm ra vẻ khách quan với vỏ bọc "đóng góp ý kiến", "lời nói tâm huyết", như: bài học của tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, nếu nhân dân mất lòng tin vào chính quyền sẽ mất tất cả; Ðảng có công lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, nhưng hiện nay "đã hết vai trò lịch sử" nên cần phải "trao lại cái quyền đó cho nhân dân" (?!)... Họ còn lớn tiếng hô hào đòi bỏ Ðiều 4 của Hiến pháp quy định ÐCS Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Lợi dụng việc ÐCS Việt Nam công khai tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác, họ tìm mọi cách tô vẽ, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, gieo rắc hoài nghi, tâm lý bất mãn, bất bình trong nhân dân, với mục đích gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Ðảng. Núp dưới chiêu bài đấu tranh cho "dân chủ", "tự do", "công bằng xã hội", họ còn thành lập tổ chức trên internet để tập hợp, lôi kéo, phát triển lực lượng để chống lại Ðảng và Nhà nước Việt Nam.
Từ một số viện dẫn, lập luận trên, tôi thấy họ đã cố tình "đánh lận con đen". Họ không thấy rằng, trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu, phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Mỹ, Ðảng Dân chủ và Ðảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa liên bang Ðức cũng như vậy, Ðảng dân chủ Thiên chúa và Ðảng dân chủ xã hội thay nhau cầm quyền. Còn ở Australia là vai trò của Ðảng Lao động và Liên Ðảng quốc gia - tự do... Vậy tôi xin được hỏi "các nhà dân chủ", những người đang lớn tiếng tự nhận là "người yêu nước" ở trong và ngoài nước là: Nếu các vị sống ở Mỹ, Ðức, Australia thì các vị có thể gân cổ phê phán chế độ đó không dân chủ hay không? Theo nhận thức của tôi, về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam đã được quy định tại Ðiều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Ðiều 1, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (năm 1966) ghi rõ: "Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa". Chúng ta hiểu điều này có nghĩa là: việc lựa chọn chế độ chính trị nào (thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân, CNTB hay CNXH) và việc có ghi rõ điều đó vào Hiến pháp hay không hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ÐCS Việt Nam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng.
Hiệu quả hoạt động của chính quyền chính là thước đo hiệu quả sự lãnh đạo của Ðảng. Ðiều lệ ÐCS Việt Nam khẳng định: "Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Ðảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Ðảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội". Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam được xác định là: "Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; theo tôi hiểu, Ðảng lãnh đạo Nhà nước song không điều hành thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Ðảng. Trong lịch sử chúng ta đều biết, chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh lập nên vốn đa đảng. Nhưng trên thực tế của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau đó là chống đế quốc Mỹ, chỉ ÐCS Việt Nam mới có đủ khả năng tập hợp lực lượng, trở thành hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc, và đã "đứng mũi chịu sào" với bao nhiêu hy sinh to lớn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vì vậy, đối với đại đa số nhân dân trong nước, ÐCS Việt Nam hiện thân cho quyền lực chính đáng từ trong lịch sử, và lúc này ÐCS Việt Nam đang nỗ lực tăng cường tính chính thống của mình, thông qua nỗ lực tìm ra con đường đúng đắn để phát triển đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống của mọi người dân, nghĩa là tạo nên sự hài hòa giữa các lợi ích, cũng như các tầng lớp xã hội. Kết quả là đã thấy rõ: Việt Nam đứng thứ hai ở châu Á về tốc độ tăng trưởng GDP. Trước những khó khăn của đất nước trong cơn lốc suy thoái kinh tế toàn cầu, trước các hạn chế, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt, lẽ ra một số người tự xưng là "tâm huyết với đất nước" cần đồng tâm, đồng lòng cùng Ðảng và Nhà nước vượt qua khó khăn. Nhưng đáng tiếc là họ không làm như vậy mà lại thi nhau kêu gào trên các diễn đàn của internet, rồi rùm beng trên BBC, VOA, RFA, RFI... đổ hết mọi lỗi lầm cho Ðảng, rằng: Ðảng là nguồn gốc của mọi "bất ổn xã hội", của quan liêu, tham nhũng và "phải chịu trách nhiệm trước nhân dân"... Từ đó họ kích động đấu tranh cho "đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập"! 
Lập luận của họ đưa ra có thể làm phân tâm, gây hoài nghi đối với một số người còn thiếu thông tin, chưa hiểu biết nhiều, còn với tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, bản chất của vấn đề vẫn luôn được nhận thức đúng đắn. Rốt cuộc, điều mà những người đang lớn tiếng kia chỉ là muốn loại trừ vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam mà thôi, và không cần phải phân tích những nội dung sai trái trong từng lập luận của họ cũng thấy rõ ý kiến của họ là gì. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là thứ tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà mấy chục năm qua, các phần tử "hành nghề chống cộng cực đoan" sử dụng ở ngoài nước, như ở nước Mỹ. Tôi biết quan niệm của ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về dân chủ khác biệt về bản chất so với quan điểm của "các nhà dân chủ", "người yêu nước" theo lập trường phương Tây. Dân chủ của nhân dân Việt Nam là dân chủ XHCN, thuộc về nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam - đại diện chân chính cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Hơn 80 năm qua, ÐCS Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhưng trong Cương lĩnh của mình, Ðảng cũng khẳng định rõ, Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Thử hỏi nếu không có ÐCS Việt Nam, những người đang lớn tiếng kêu gọi "bỏ  Ðiều 4 ra khỏi Hiến pháp" đã trưởng thành từ đâu, được đào tạo dưới chế độ xã hội nào, khi nói lên ý kiến như vậy, họ không thấy bứt rứt trong lương tâm hay sao? 
Dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, sự nghiệp đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" đã giúp cho mọi người dân thuộc các thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của mình thông qua Nhà nước pháp quyền XHCN - nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cho nên hoàn toàn không cần tới cơ chế "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập". Lý luận và thực tiễn đều bác bỏ những vu cáo, bịa đặt về vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, đồng thời cũng trực tiếp khẳng định các luận điệu tuyên truyền "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập" ở Việt Nam thực chất chỉ nhằm thực hiện mục tiêu chính trị đen tối của các thế lực đang có tham vọng đi ngược lại xu thế phát triển tất yếu của đất nước. Sự thật trước sau vẫn là sự thật. Không ai có thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam! Quá khứ và hiện tại đã khẳng định chân lý đó. Việc làm của mấy người mượn danh "yêu nước", tự coi mình "có trách nhiệm với dân tộc" không đánh lừa được những người yêu nước chân chính và có trách nhiệm thật sự đối với dân tộc. Tôi nghĩ, để đưa đất nước và dân tộc đến mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", nhân dân trong nước cần thống nhất, đồng thuận cùng ÐCS Việt Nam tiếp tục phấn đấu trên con đường mới. Sự nghiệp đổi mới đang còn nhiều khó khăn, thách thức. Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra phải có những nỗ lực vượt bậc của toàn dân tộc và nhân dân Việt Nam càng tin tưởng vào trí tuệ, bản lĩnh lãnh đạo của Ðảng, vào sự đoàn kết, nhất trí của toàn dân dưới ngọn cờ vinh quang của ÐCS Việt Nam. Dù ở nước ngoài, tôi vẫn tin như vậy, bằng chứng thuyết phục nhất đối với tôi là sự phát triển thần kỳ của đất nước mà tôi đã được chứng kiến sau mỗi lần về thăm quê hương. Dù ở xa Tổ quốc, tôi vẫn cố gắng góp phần nhỏ bé của mình cả về vật chất và tinh thần. Tôi hy vọng Báo Nhân Dân sẽ cho đăng bài này, vì đó là tấm lòng của một người con luôn gắn bó với quê hương, đất nước.

TRUNG THÀNH 
Hoa Kỳ - ngày 18-2-2013



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh


Cách đây 83 năm, Xuân Canh Ngọ, ngày 3-2-1930, Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ðây là sự kiện lịch sử vẻ vang trong lịch sử cách mạng của đất nước ta, mốc son chói lọi trong hành trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh

Dưới ngọn cờ vẻ vang của Ðảng, dân tộc ta, nhân dân ta đã viết nên những bản anh hùng ca của thời đại, làm nên những chiến thắng lẫy lừng trong thế kỷ 20. Năm 1945, mới 15 tuổi, với hơn năm nghìn đảng viên, Ðảng đã lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, đập tan chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1954, sau "chín năm kháng chiến thánh thần", chiến thắng vĩ đại Ðiện Biên Phủ đã giải phóng hoàn toàn miền bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta. Ðại thắng mùa Xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước ta hơn 26 năm qua do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HÐH.
Nhìn lại lịch sử Ðảng ta trong 83 năm qua, chúng ta tự hào về một Ðảng Mác-xít Lê-nin-nít chân chính, Ðảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, "Ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Ðảng ta không có lợi ích nào khác". Dù có lúc tình thế cách mạng "ngàn cân treo sợi tóc", muôn vàn khó khăn, thử thách, Ðảng đã lãnh đạo nhân dân ta muôn người như một đứng lên làm chủ vận mệnh dân tộc. Sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Ðảng có lúc phạm sai lầm khuyết điểm; công tác xây dựng Ðảng cũng còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Ðảng.
Thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay", trong năm 2012, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các bộ, ban, ngành trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đến các tổ chức đảng trong cả nước đã tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình. Ðây là Nghị quyết về xây dựng Ðảng có ý nghĩa hết sức quan trọng, được toàn Ðảng, toàn dân đặc biệt quan tâm, đồng tình, ủng hộ. Nghị quyết đã lựa chọn đúng vấn đề, đánh giá đúng thực trạng, đề ra các nhóm giải pháp cụ thể, đồng bộ, thiết thực đối với công tác xây dựng Ðảng. Tuy nhiên, những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, chưa đạt yêu cầu như mong muốn. Ở nhiều nơi, việc kiểm điểm còn chung chung, hình thức, nể nang, né tránh, chủ yếu nói về ưu điểm mà chưa chỉ rõ những thiếu sót, khuyết điểm, phương hướng phấn đấu; giải pháp khắc phục chưa cụ thể; một số vụ việc vi phạm kỷ luật đã rõ nhưng chưa kiên quyết xử lý.
Năm 2013, cùng với việc đẩy mạnh phong trào thi đua trong toàn Ðảng, toàn dân, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng và những mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong năm bản lề của Kế hoạch năm năm 2010 - 2015, các tổ chức đảng trong cả nước tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 về xây dựng Ðảng, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cùng với việc đưa kiểm điểm, tự phê bình và phê bình vào nền nếp thường xuyên, cần thực hiện kiên quyết, đồng bộ các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên phải có bản lĩnh vững vàng trước những khó khăn, thách thức; thẳng thắn đấu tranh với những quan điểm mơ hồ, sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị. Cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải là tấm gương sáng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác... Xây dựng cấp ủy đảng mạnh, nội bộ đoàn kết thống nhất, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, duy trì nền nếp, đúng chế độ, đúng nguyên tắc, coi đó là môi trường tốt để giáo dục và quản lý đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, làm ảnh hưởng tới uy tín của Ðảng, suy giảm niềm tin của quần chúng. Công tác kiểm tra, giám sát tập trung vào những vấn đề chủ yếu: thực hiện Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, và các quy định của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc; chế độ công tác; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...
Kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Ðảng là dịp chúng ta cùng nhau ôn lại những bài học truyền thống quý báu, tự hào về đất nước, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Chúng ta thành kính tưởng nhớ Bác Hồ kính yêu và các lãnh tụ của Ðảng, các anh hùng, liệt sĩ, đồng bào, đồng chí thân yêu đã đi suốt cuộc trường chinh của dân tộc, anh dũng chiến đấu, hy sinh, viết nên những trang sử vẻ vang.
Chúng ta kỷ niệm Ngày thành lập Ðảng trong lúc đồng bào cả nước đang náo nức đón chào Xuân mới Quý Tỵ. Từ lâu, Ðảng - Mùa Xuân đã trở thành cụm từ gần gũi trong tâm trí, tình cảm mỗi người dân đất Việt. Gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu, ủng hộ, chỉ rõ những khuyết điểm, thiếu sót, chắc chắn Ðảng của chúng ta sẽ ngày càng vững mạnh, "là đạo đức, là văn minh", trẻ trung như sức trẻ mùa xuân, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Theo Nhân Dân Online



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong những bước ngoặt lịch sử

Tác giả : Vân Thanh

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, là một mốc son lịch sử đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đưa cuộc đấu tranh của dân tộc vào thời kỳ phát triển mới. Hơn 80 năm qua, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước các nhiệm vụ lịch sử, Đảng và Bác Hồ đã kịp thời xác định đúng đắn, sáng tạo đường lối, chiến lược, sách lược đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

Vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong những bước ngoặt lịch sử



1. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xác định đúng đắn đường lối cách mạng, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới của độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Trước năm 1930 khi chưa có Đảng, đất nước ta chìm đắm dưới ách thống trị, áp bức hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân Pháp và hàng trăm năm của chế độ phong kiến thối nát. Chỉ có phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong hành động cách mạng, kiên trì mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội là giành được những thắng lợi vẻ vang.
Sự lựa chọn đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngay từ những năm đầu thập niên 20, thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã có sự lựa chọn đúng đắn khẳng định con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam: "không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Trải qua thực tiễn cuộc sống, hoạt động cách mạng phong phú và tiếp thu chân lý khoa học, Người đã đi đến kết luận chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc.
 2. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bám sát thực tiễn cách mạng, phân tích sâu sắc thời cuộc, nắm vững mâu thuẫn cơ bản, thấy rõ mâu thuẫn chủ yếu trong mỗi thời kỳ, xác định đúng đắn những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta đã xác định rõ mối quan hệ khăng khít giữa các nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam độc lập dân tộc, dân chủ gắn liền với chủ nghĩa xã hội. 
Từ khi có Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Namđã trải qua những chặng đường đấu tranh oanh liệt và thắng lợi vẻ vang, từng bước mang lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (2/9/1945) mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vận mệnh của Đảng gắn liền với vận mệnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và quần chúng nhân dân là nguồn gốc sức mạnh và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
3. Đảng luôn nhạy bén, bám sát tình hình thời cuộc để xác định đúng đắn nhiệm vụ, phương pháp cách mạng phù hợp đưa đất nước tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn. Trong thực tiễn, Đảng luôn kết hợp chặt chẽ giữa kiên trì chuẩn bị lực lượng với nắm vững thời cơ, khi thời cơ đến đã biết chớp lấy, kịp thời tổ chức, động viên nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh giành thắng lợi. Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng (10/5 - 19/5/1941) đã có quyết định chuyển hướng chiến lược đấu tranh cách mạng kịp thời thành lập Mặt trận Việt minh, ra lời kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết, đứng lên chống phát-xít, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Sau khi phát-xít Đức, Ý bại trận, phát-xít Nhật sửa soạn đầu hàng (7/1945),  Hồ Chí Minh vẫn rất sáng suốt nhận định thời cơ cách mạng đang đến gần và nhắc nhở các đồng chí Trung ương: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".
 Sau năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng miền Namvẫn tạm thời bị Mỹ, ngụy chiếm đóng. Trên cơ sở phân tích tình hình, nhận thức rõ những mâu thuẫn khác nhau ở mỗi miền Nam, Bắc, Đảng và Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là vừa tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành triệt để cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc trong cả nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Điều đáng chú ý là cả hai cuộc cách mạng đó đều được xác định nằm trong quỹ đạo cách mạng vô sản và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước không được phép lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
4. Đảng luôn nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trải nghiệm thực tiễn để có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo làm nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đất nước chồng chất khó khăn càng làm nổi bật những thành tựu đạt được sau 25 năm đổi mới là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, khẳng định lý tưởng cộng sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội hiện thực và tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đất nước có hoà bình, thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưng với mô hình và kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa áp dụng vào Việt Nam đã nhanh chóng bộc lộ khuyết tật, sai lầm của nó. Nhưng sau mỗi sai lầm, vấp ngã, Đảng đã dũng cảm "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật", kiên quyết sửa chữa, kịp thời tổng kết rút ra những bài học từ những thành công và cả những sai lầm, thất bại, kiên trì sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hai mươi lăm năm qua với bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức cao đẹp của một Đảng cách mạng cầm quyền dày dạn kinh nghiệm, luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước vươn lên giành nhiều thắng lợi mới. Mô hình, mục tiêu và con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn. Mặc dù cách mạng còn nhiều khó khăn, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Bởi đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử nhân loại. 
Ngay từ đầu, Đảng đã xác định rõ khâu đột phá của sự nghiệp đổi mới là đổi mới tư duy nhưng trọng tâm lại là đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế kết hợp với đổi mới chính trị làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, quyết tâm xây dựng một xã hội "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân, phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Namxã hội chủ nghĩa.
 Để tiếp tục tạo cơ sở vững chắc trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước trong những năm tới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định rõ 8 phương hướng cơ bản để toàn Đảng, toàn dân ta quán triệt và thực hiện: Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Với những phương hướng cơ bản trên, chắc chắn trong thời gian tới, Đảng ta sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên không ngừng, đạt được nhiều thắng lợi to lớn hơn trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Mấy vấn đề về xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay


Tác giả : Vũ Thạch

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ lớn và thách thức lớn của sự phát triển. Để lãnh đạo đất nước trong điều kiện mới, Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nắm bắt thời cơ, chấp nhận và vượt qua thách thức, nguy cơ, nâng cao tầm trí tuệ.
Dưới ngọn cờ vẻ vang của Ðảng, dân tộc ta, nhân dân ta đã viết nên những bản anh hùng ca của thời đại, làm nên những chiến thắng lẫy lừng trong thế kỷ 20. Năm 1945, mới 15 tuổi, với hơn năm nghìn đảng viên, Ðảng đã lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, đập tan chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1954, sau "chín năm kháng chiến thánh thần", chiến thắng vĩ đại Ðiện Biên Phủ đã giải phóng hoàn toàn miền bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta. Ðại thắng mùa Xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước ta hơn 26 năm qua do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HÐH.
83 năm qua, chúng ta những người con của đất nước luôn tự hào về một Đảng Mac xít chân chính, chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Đảng của nhân dân. Trước yêu cầu đưa sự nghiệp đổi mới phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, trong bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn, mặt mạnh và mặt yếu của tổ chức Đảng bộc lộ trong thời gian qua, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng càng là vấn đề quan trọng hàng đầu mà cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hết sức quan tâm. Có xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì mới nâng cao được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, ngược lại nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức Đảng cũng là để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Mấy vấn đề về xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay

Công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt ở tất cả các cấp, các ngành. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, sự suy yếu, thoái hoá, biến chất của tổ chức Đảng, làm vai trò cầm quyền của Đảng bị suy giảm, có thể dẫn đến mất ổn định chính trị- xã hội là một nguy cơ lớn. Chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện tối cần thiết và là điều kiện tiên quyết để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhất là trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức và tài, đầy tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước dân tộc, năng động, dám nghĩ, dám làm... không chỉ là sự quan tâm, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, vấn đề có ý nghĩa quyết định đến thành bại của cả sự nghiệp cách mạng.
Kiên quyết đấu tranh, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực khác ở trong Đảng và ngoài xã hội. Những tiêu cực trong xã hội đã xâm nhập vào cơ thể Đảng, vào bộ máy Nhà nước, thách thức nghiêm trọng uy tín của Đảng, Nhà nước trong nhân dân, ảnh hưởng đến việc cầm quyền của Đảng, sự tồn vong của chế độ và con đường phát triển của đất nước.  toàn Đảng và mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần có nhận thức đúng đắn tư tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh về nhiệm vụ xây dựng Đảng, để tham gia đấu tranh khắc phục tình trạn trên, xây dựng Đảng ta thực sự "là đạo đức, là văn minh".
Trong thời gian tới phải đẩy mạnh phong trào thi đua trong toàn Ðảng, toàn dân, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng và những mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong năm bản lề của Kế hoạch năm năm 2010 - 2015, các tổ chức đảng trong cả nước tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 về xây dựng Ðảng, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cùng với việc đưa kiểm điểm, tự phê bình và phê bình vào nền nếp thường xuyên, cần thực hiện kiên quyết, đồng bộ các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên phải có bản lĩnh vững vàng trước những khó khăn, thách thức; thẳng thắn đấu tranh với những quan điểm mơ hồ, sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị. Cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải là tấm gương sáng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác... Xây dựng cấp ủy đảng mạnh, nội bộ đoàn kết thống nhất, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, duy trì nền nếp, đúng chế độ, đúng nguyên tắc, coi là môi trường tốt để giáo dục và quản lý đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, làm ảnh hưởng tới uy tín của Ðảng, suy giảm niềm tin của quần chúng. Công tác kiểm tra, giám sát tập trung vào những vấn đề chủ yếu: thực hiện Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, và các quy định của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc; chế độ công tác; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...Để luôn đảm bảo vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối Của Đảng với nhà nước, xã hội.




Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

“Niềm tin” - Đã có và mãi mãi tồn tại

Tác Giả  : Niềm Tin


Xã hội luôn là con đường đầy thách thức, cám dỗ và chông gai,…Nhưng mỗi chúng ta đều tồn tại trong xã hội này và vô tình hình thành nên những con đường riêng cho mình, không ai giống ai, tạo nên sự đặc trưng, tuy nhiên tất cả đó đều đi đến cái đích là cuộc sống tốt đẹp hơn, xã hội văn minh hơn. Để làm được điều đó chúng ta không thể thiếu “niềm tin”. Đó là bộ phận, động lực giúp cho chúng ta đi đến cái đích phía trước.
  • “Niềm tin là sức mạnh có thể khiến thế giới tan vỡ xuất hiện trong ánh sáng” - Helen Keller
  •  “Đôi khi cuộc đời sẽ ném gạch vào đầu bạn. Đừng đánh mất niềm tin” - Steve Jobs
  • “Để làm được những điều to lớn, chúng ta không những phải hành động mà còn phải mơ mộng, không những phải có kế hoạch mà còn phải có niềm tin” - Anatole France…v...v

Có rất nhiều danh ngôn về niềm tin đã được đúc rút từ trước tới nay, điều đó đã khẳng định sự cần thiết phải có một niềm tin ở mỗi chúng ta.
         Bác Hồ, vị chủ tịch kính yêu, vị cha già của dân tộc, người lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Namkhỏi ách thống trị của đế quốc thực dân. Trong phần lớn cuộc đời mình, Bác dành cho đất nước Việt Nam’ trong Bác luôn sôi sục một “niềm tin”, niềm tin vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, niềm tin vào chính mình, niềm tin vào đồng đội của mình, niềm tin vào Đảng cộng sản Việt Nam, vào nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là cơ sở rất tốt để hoàn thành cuộc đấu tranh gian khổ, nguy nan trước bọn thực dân xâm lược  mạnh hơn chúng ta về sức mạnh vật chất, sức mạnh quân sự. Tại sao lại như vậy? Bởi lí do rất đơn giản là nhân dân ta, nhà nước ta tin vào sự lãnh đạo của Đảng ở các chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật nhà nước mới thành lập non trẻ, lãnh tụ của chúng ta cũng có niềm tin, sự tin tưởng vào các bộ phận giúp việc cho mình. Dân ta có niềm tin rằng đất nước sẽ hòa bình, cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn,xã hội sẽ văn minh hơn,...Và sự thật là Đảng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nhân dân dao phó, của nhà nước tin tưởng sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước được hòa bình, ổn định. Sau chiến thắng ngày ấy, biết bao khó khăn thử thách đã hiện ra trước mắt yêu cầu Đảng và nhà nước ta giải quyết một cách trọn vẹn và nhanh chóng. Công cuộc đổi mới đã diễn ra ngay sau đó một thời gian và đã đạt được một kết quả tốt với thực tế của đất nước, kinh tế đất nước tăng trưởng nhanh, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, KHCN được áp dụng nhiều vào sản xuất, cuộc sống của người dân tăng lên rõ rệt, niềm tin của dân chúng đã đặt đúng chỗ.

Niềm tin vào Đảng - Blog tin tức,chính luận,biển đảo

“Niềm tin”, đôi lúc đơn giản mà quan trọng lắm các bạn à! Cuộc sống đôi lúc cũng không đơn giản nhưng cũng không quá phức tạp lắm đâu, quan trọng là chúng ta phải tin vào chính mình, tin vào con đường mình đã chọn, vào những người mà mình giao phó trách nhiệm và gánh vác công việc cho mình. Bố mẹ có niềm tin vào con cái mình, gieo cho nó những cái tốt, luôn là một tấm gương sáng thì không đời nào đứa con đó không nhận ra mà cứ vô tâm mắc lỗi, phá phách. Niềm tin + hành động sẽ là chất xúc tác rất tốt của bậc cha mẹ với con cái. “Đảng là công bộc của nhân dân” nhưng công bộc đó cũng mong muốn có một sự tin tưởng, hay chủ nhân củng có một sự tin tưởng vào các việc làm của công bộc của mình, đừng có giao việc cho họ mà vẫn không tin vào khả năng của họ.
       Thực tế hiện nay chỉ ra rằng có một phần tử chống phá Đảng và nhà nước ta, phá sự yên bình của cuộc sống của nhân dân, đang gieo rắc những tư tưởng xấu vào quần chúng nhân dân, nhăm làm lung lay “niềm tin” vào Đảng cộng sản Việt Nam của quần chúng nhân dân. Những kẻ này có thể ẩn nấp trong các “xó” rồi ban ngày chúng trà trộn vào nhân dân, tung các tin đồn nhảm, càng nhiều tin thì càng được nhiều tiền, công việc của chúng chỉ có thể như thế thôi. Mục đích cuối cùng của chúng là làm lung lay “niềm tin” của quần chúng nhân dân Việt Nam. Việc làm của chúng thật là dơ bẩn và đáng khinh bỉ, chính chúng là những kẻ đang phá hoại nhà nước ta đấy. Các bạn à! Thử đặt mình vào vị trí của một người mà được người khác giao việc nhưng họ vẫn không tin mình thì kết quả sẽ ra sao? Tất nhiên là không thể tốt được.
     Đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc cái “niềm tin” của nhân dân giao phó trong giai đoạn khó khăn thì tại sao không hoàn thành nhiệm vụ đó trong hoàn cảnh hiện nay chứ! Hãy tin vào Đảng, vào công bộc của mình chứ đừng tin vào thằng chủ của nhà khác, như vậy công bộc của mình sẽ hoàn thành các nhiệm vụ của mình và sẽ không có đất cho bọn chống phá, chúng sẽ bị tách biệt, cô lập và dần dần sẽ bị đào thải.
     Công dân Việt Nam sẽ luôn tin tưởng vào Đảng, vào nhà nước ta, nó đã tồn tại và sẽ mãi tồn tại trong mọi thời kì cho dù các thế lực thù địch “hò hét, la ó” thế nào đi chăng nữa. Chúng ta sẽ luôn tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc và lấy đó làm niềm tin động lực hướng tới tương lai tươi sang tốt đẹp hơn. Là công dân Việt Nam, mình muốn gửi một thông điệp tới những người đang có ý định chống phá nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rằng toàn thể nhân dân Việt Nam là một khối, nó có thể đè bẹp tất cả những kẻ nào có ý định đó, đừng mơ mộng.



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

“Một Đảng cầm quyền có phải mất dân chủ”?


Tác giả : Vân Thanh

Dân chủ và dân chủ hóa, dù dưới bất cứ tính từ nào, dân chủ tư sản hay dân chủ XHCN, cũng đều là bước tiến của lịch sử, ở những thang bậc khác nhau. Những giá trị phổ quát của dân chủ là có thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng đánh giá một nền dân chủ phải căn cứ trước hết vào chỗ quyền lực thuộc về ai, lợi ích là của ai và vì ai. Đánh giá một đảng chính trị cũng không thể chỉ căn cứ vào tên gọi, “xem mặt bắt hình dong” mà trước hết phải xem họ thật sự đại diện cho loại quyền lực nào, tranh đấu vì lợi ích của ai.

Đảng cộng sản Việt Nam - Blog tin tức,chính luận,biển đảo

Phê phán một số quan điểm tư tưởng – lý luận sai trái trong tình hình hiện nay” là một yêu cầu cần thiết của việc bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, cụ thể là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.Từ cách nhìn này, ta thử bàn về phê phán quan điểm “một đảng cầm quyền là mất dân chủ”. Thực chất đó là quan điểm cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo và cầm quyền là làm mất đi tính chất dân chủ của nền chính trị Việt Nam. Đúng hay sai?
Thứ nhất: Từ nhận thức về dân chủ
Dưới chế độ tư bản, quyền vua chuyển thành quyền dân, quân chủ chuyển thành dân chủ. Hình thức tổ chức nhà nước cũng đa dạng. Có quân chủ lập hiến, có dân chủ đại nghị, có dân chủ theo chế độ nghị viện, có dân chủ theo chế độ tổng thống hay quốc trưởng. Nói là dân chủ, thật ra, quyền lực vẫn chủ yếu nằm trong tay các giai cấp hay thế lực thống trị. Có chế độ đa đảng, nhưng đảng cầm quyền nào cũng trước hết phục vụ cho lợi ích của thế lực mình đại diện. Nói là lo cho dân, thực chất vẫn là lợi ích phe nhóm. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), về lý thuyết, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân là người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp đi liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng Cộng sản cầm quyền là để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH), xây dựng và phát triển chế độ làm chủ của nhân dân.
Nhìn tổng thể là như vậy. Nhưng cụ thể thì biến đổi không ngừng, thiên hình vạn trạng. Chủ nghĩa tư bản hiện đại, qua những cuộc khủng hoảng, vấp váp và thất bại, đã có những điều chỉnh cho hợp với xu thế phát triển, trong đó có những điều chỉnh đối với nền dân chủ tư sản. CNXH hiện thực, qua thực tiễn vận hành cũng đã có những vấp váp, sai lầm, dẫn đến sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, ở đó, các đảng cộng sản đều mất vị thế lãnh đạo và cầm quyền. Ở các nước XHCN còn lại, để tiến tới một nền dân chủ XHCN đích thực, các đảng cộng sản cầm quyền không thể không tiến hành kiên quyết công cuộc đổi mới và cải cách, nếu không muốn rơi vào bảo thủ và trì trệ.
Dân chủ và dân chủ hóa, dù dưới bất cứ tính từ nào, dân chủ tư sản hay dân chủ XHCN, cũng đều là bước tiến của lịch sử, ở những thang bậc khác nhau. Những giá trị phổ quát của dân chủ là có thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng đánh giá một nền dân chủ phải căn cứ trước hết vào chỗ quyền lực thuộc về ai, lợi ích là của ai và vì ai. Đánh giá một đảng chính trị cũng không thể chỉ căn cứ vào tên gọi, “xem mặt bắt hình dong” mà trước hết phải xem họ thật sự đại diện cho loại quyền lực nào, tranh đấu vì lợi ích của ai. Khi so sánh các mô hình dân chủ, các chính đảng trong các chế độ chính trị - xã hội khác nhau, một nhà nghiên cứu của ta đã đưa ra nhận xét:
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước. Tính ưu việt của nó là ở chỗ: loại trừ lợi ích và cạnh tranh phe phái, đảng phái. Tất cả thống nhất vì lợi ích của dân, của Tổ quốc… Một đảng cầm quyền có lợi ích riêng thì đa đảng trong hệ thống chính trị là cần thiết. Ở đây, nếu chỉ có một Đảng là độc tài. Một đảng không có lợi ích riêng khi cầm quyền, cầm quyền vì lợi ích chung thì đa đảng dễ gây bè phái, phân tán. Nhận xét này rất đáng để suy ngẫm.
Thứ hai: Về chế độ dân chủ và Đảng cầm quyền của ta
Bác Hồ nói: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Bác cũng nói: “Đảng và Nhà nước ta là công cụ của dân, cán bộ là nô bộc của dân”. “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác” (Sửa đổi lối làm việc, 1947). “Đảng ta là một đảng cầm quyền…Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (Di chúc)
Tư tưởng của Bác Hồ về mối quan hệ Dân – Đảng, Đảng – Dân, nói rộng ra là mối quan hệ giữa chế độ dân chủ và đảng cầm quyền đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Dân làm chủ nhưng không phải mỗi người dân tự mình đứng ra làm chủ riêng rẽ, cá nhân mà làm chủ thông qua cơ chế đại diện, tức là cơ chế ủy quyền cho những cơ quan nhà nước do mình cử ra, thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội do mình lập ra, đồng thời thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp tự quản, chủ yếu ở cơ sở.
Đảng lãnh đạo nhưng không ở ngoài dân và đứng trên dân mà ở trong dân, chịu trách nhiệm trước dân, chịu sự kiểm tra và giám sát của dân. Đảng cầm quyền nhưng không phải tự mình biến thành Nhà nước, một mình nắm chính quyền và làm thay công việc của Nhà nước. Nhà nước quản lý (hiểu theo nghĩa rộng) nhưng không phải là người cai trị dân, sai khiến dân, đè đầu cưỡi cổ dân mà là người được ủy quyền để làm những công việc ích nước lợi dân, chịu sự kiểm tra và giám sát của dân. Không làm được việc thì dân bãi miễn.
Thực tế mấy thập kỷ đổi mới vừa qua cho thấy những cố gắng đáng kể mà Đảng và Nhà nước ta đã làm để bảo đảm thực thi các quyền dân chủ của nhân dân, từng bước xây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN. Nhưng thực tế cũng cho thấy những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những biểu hiện “mất dân chủ” trong đời sống chính trị, xã hội của ta là rất nghiêm trọng.
Dân chủ trong Đảng, dân chủ trong quản lý nhà nước và dân chủ trong xã hội đều có nhiều mặt bị vi phạm. Chủ nghĩa dân chủ hình thức ngày thêm nặng. Thủ đoạn trù dập người dân tinh vi hơn mà cũng nguy hại hơn. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức; tệ tham nhũng, quan liêu xa dân cộng với tình trạng “mất dân chủ” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nếu không khắc phục tình trạng nói trên thì Đảng sẽ tự mình đánh mất bản chất dân chủ và cách mạng của mình.
Vậy phê phán quan điểm sai trái thế nào cho đúng?
Có thể phân biệt giữa đúng đắn với sai trái và giữa sai trái với thù địch. Tuy nhiên, không phải giữa những cái đó, lúc nào lằn ranh cũng rõ ràng.
Muốn phê phán quan điểm sai trái thế nào cho đúng thì trước hết, phải nhận diện cho đúng thế nào là quan điểm sai trái. Nếu ta không coi là quan điểm sai trái đối với những ý kiến phê phán cái hư hỏng trong việc thực thi dân chủ làm tổn thương đến bản chất dân chủ của Đảng như đã nêu trên thì vẫn phải nói các luận điểm sau đây là sai trái: “Đảng Cộng sản bản chất là không dân chủ và do đó Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo và cầm quyền là vi phạm nền dân chủ”. “Không có dân chủ tư sản hay dân chủ XHCN mà chỉ có một nền dân chủ chung với những giá trị phổ quát của nó. Muốn đạt tới một nền dân chủ đích thực, phải thi hành chế độ đa đảng…”.
Phê phán phải có lý lẽ, không áp đặt, không cực đoan, không độc quyền chân lý. Có lòng tin nhưng không phải tin mù quáng, chỉ lặp lại những luận điểm có sẵn mà không có sáng tạo. Đấu tranh lý luận phải phục vụ cho thực tiễn hành động. Và thực tiễn hành động lại là minh chứng thuyết phục nhất cho lý luận. Chúng ta phải chứng minh những quan điểm sai trái nêu trên là vô căn cứ bằng chính những hành động của chúng ta nhằm khắc phục những sai lầm, khuyết điểm và phát huy hơn nữa nền dân chủ XHCN, dân chủ hóa hơn nữa các hoạt động lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước ta.



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH