Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Liệu Chủ Quyền Biển-Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Liệu Chủ Quyền Biển-Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Triều Minh Mệnh quản lý vùng biển đảo Hoàng Sa

Một trong những vấn đề vua Minh Mệnh quan tâm chú trọng nhất trong thời kỳ làm vua (1820-1840) là chủ quyền vùng biển đảo quốc gia. Thư tịch của triều Nguyễn, tộc phả của các dòng họ ở các tỉnh Nam Trung bộ (Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Bình Định), đặc biệt là kho Châu bản hiện còn đã chứng minh: Minh Mệnh là một vị vua cho công bố nhiều văn bản Nhà nước nhất về việc quản lý vùng biển đảo Hoàng Sa.

Triều Minh Mệnh quản lý vùng biển đảo Hoàng Sa


Bản dập mộc bản ghi việc vua Minh Mệnh giúp thuyền buôn phương Tây
bị mắc cạn ở Hoàng Sa năm 1836.
Cho đến nay đã phát hiện được 14 văn bản triều Minh Mệnh liên quan đến Hoàng Sa, ghi chép lại trên các hình thức công văn khác nhau bao gồm: Tấu, Phúc tấu, Dụ (Tấu là các bản tâu trình của viên quan phụ trách ở các địa phương, ở các Bộ lên nhà vua đương trị vì. Phúc tấu là bản tâu lần thứ hai (hoặc lần thứ ba) của địa phương và các Bộ sau khi đã sửa chữa, bổ sung theo ý chỉ Nhà vua. Dụ là bản chỉ thị của nhà vua ban xuống cho các địa phương, các Bộ xem xét những việc cần bàn bạc hay thực thi những việc mà nhà vua đã chuẩn y).
Trước hết, triều đình xác định vùng biển Hoàng Sa là nơi trọng yếu của quốc gia: ''Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu". Để có thể quản lý chặt chẽ lãnh hải, biển đảo, vua Minh Mệnh đã phái người trực tiếp đến vùng biển đảo Hoàng Sa thực hiện việc đo vẽ, bổ sung những khiếm khuyết trong lịch sử, hình thành nên một hệ thống bản đồ chi tiết: ''Trước kia đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa được rõ ràng. Hàng năm nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển''.
Triều thần theo ý chỉ nhà vua nhấn mạnh việc thám sát, đo vẽ cần được thực hiện toàn diện, tránh bỏ sót về địa hình tự nhiên, cự ly, kích thước của các hòn đảo, dù to hay nhỏ... "Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xem xét xứ ấy, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và bốn biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào, căn cứ vài thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại, từ xứ ấy trông vào bờ, đối thẳng là tỉnh nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào... Nhất nhất nói rõ, đem về tâu trình''. Liên tục trong 6 năm từ 1834 đến 1839, hàng năm vua Minh Mệnh đều cử các đội thuyền ra Hoàng Sa thực hiện đo vẽ bản đồ.
Theo các sử liệu mới được phát hiện, trong năm không chỉ một lần triều đình đưa người ra Hoàng Sa, năm 1834 đã có tới ít nhất hai đội thuyền được cử đi. Sách Đại Nam thực lục chép "năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), Đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ". Văn bản gốc của tờ Lệnh năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), tháng 4, ngày 15, có dấu triện của Quan Bố chánh và Án sát sứ tỉnh Quảng Ngãi, hiện được lưu lại trong Gia phả của dòng họ Võ làng An Vĩnh, huyện Lý Sơn cho biết: Ông Võ Văn Hùng là người thuộc gia tộc họ Võ (Văn) tại làng An Vĩnh, một dòng họ có nhiều người đi Hoàng Sa trong nhiều thế kỷ.
Việc thám vãng, đo đạc trên vùng biển xa xôi, thường xuyên gặp trở ngại như gió to, bão lớn... do thiên nhiên gây ra, có những năm Thuyền trưởng cùng thủy thủ của đội thuyền phải mấy tháng trời bươn chải lênh đênh trên biển và các đảo. Quốc sử triều Nguyễn chép: Hai năm 1838 và 1839, dân binh ra Hoàng Sa, từ tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 mới trở về.
Đồng thời với việc đo đạc, vẽ bản đồ, triều Minh Mệnh còn thường xuyên tiến hành cắm mốc để khẳng định chủ quyền lãnh hải và biển đảo quốc gia. Vào năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), nhà vua đã ngự phê như sau: ''Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ "Năm Bính Thân (năm Minh Mệnh thứ 17) họ tên Cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu". Sau đó, bộ Công đã phái thủy quân Chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhựt (Nhật) giờ Mão đi Ô thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa. Bộ Công giao cho quan quân làm đủ số cột mốc gửi gấp vào Quảng Ngãi. Nhà vua tiếp tục ban chỉ thị: ''Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thu ngay, giao cho tên ấy nhận biện" và nhắc nhở "Thuyền nào đi tới đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu".
Không chỉ sử dụng gỗ để làm cột mốc, mà triều Nguyễn còn sử dụng cả những vật liệu chắc bền như gạch, đá để cột mốc chủ quyền được lưu giữ lâu dài. Năm 1834, vua Minh Mệnh đã sai binh lính đi dựng miếu thờ thần và lập bia ở đảo Hoàng Sa, nhưng vì sóng to gió lớn không làm được, nên vào tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), sai Cai đội Thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, lập bia đá đảo Hoàng Sa.
Nhằm khuyến khích thủy thủ, dân binh các đội thuyền ra công tác tại Hoàng Sa, vua Minh Mệnh đã thực hiện ban thưởng rất ưu đãi và kịp thời. Trong nhiều bản Dụ chỉ đều nhắc nhở phải lưu ý trọng thưởng bằng lương hoặc tiền, vì: ''binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa... lặn lội biển cả cực khổ''. Đối với các thuyền chuyên chở dân binh ra Hoàng Sa đều được miễn thuế cả năm. Bên cạnh ban thưởng, triều Minh Mệnh cũng thực hiện nghiêm túc việc trách phạt những viên chỉ huy hoặc thủy thủ chưa làm tốt chức nhiệm được giao như khởi hành chậm trễ, vẽ họa đồ chưa chu tất...
Vùng biển Hoàng Sa xưa nay vẫn nổi tiếng là nơi có nhiều nguy hiểm rình rập, vì vậy, nhiều tàu buôn đi qua đây rất hay bị những tai nạn bất thường như mắc cạn hoặc va phải đá ngầm... dẫn đến tàu đắm, thiệt hại hàng hóa, thậm chí có người tử vong... Các quan ở các cửa biển và chính vua Minh Mệnh đã không ít lần phái người đối xử rất chu đáo đối với những thuyền buôn phương Tây gặp nạn trên vùng biển này.
Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), Quan Thủ ngự cảng Đà Nẵng tâu báo về triều đình: Thuyền buôn của một người Pháp tên là Ê-đoa, Thuyền trưởng Đô-ô-chi-ly, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thủy thủ đoàn, ngày 20 tháng 6, rời cảng Đà Nẵng đi Lữ Tống (Lucon) buôn bán. Giờ Dần ngày 27, Ê-đoa và 11 thủy thủ đi trên chiếc tam bản lớn cập cảng nói rằng: Canh 2 đêm 21, ở phía Tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng), thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau, cảng đã phái thuyền đem theo nước uống để cứu hộ, giờ Ngọ đã gặp và đưa họ về cảng.
Sách Đại Nam thực lục chép ''Mùa đông, tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), thuyền buôn Anh Cát Lợi (nước Anh) đi qua Hoàng Sa, mắc cạn, bị vỡ và đắm; hơn 90 người đi thuyền tam bản đến bờ biển Bình Định. Vua (Minh Mệnh) được tin, ban Dụ cho các quan đầu tỉnh sắp xếp nơi trú ngụ, hậu cấp tiền và gạo cho họ. Lại phái thị vệ thông ngôn đến dịch lời thăm hỏi, tuyên Chỉ ban cấp. Bọn họ đều quỳ dài, khấu đầu không thôi. Sự cảm kích biểu lộ ra lời nói và nét mặt... Ngoài ra, nhà vua còn sai thưởng cho thuyền trưởng và đầu mục, mỗi người 1 áo đoạn vũ hàng màu, 1 quần vải tây và 1 chăn vải; các người tùy tùng mỗi người 1 bộ áo quần bằng vải màu. Ban Sắc sai Nguyễn Tri Phương và Vũ Văn Giải đưa họ sang bến tàu Hạ Châu, cho về nước''.
Chính sách quản lý vùng biển đảo Hoàng Sa của triều Minh Mệnh khá toàn diện và tương đối chặt chẽ, từ xây dựng hệ thống bản đồ, lập bia cắm mốc đến thường xuyên cử đội thuyền ra các đảo hay thực hiện việc cứu hộ các tàu buôn nước ngoài... Tất cả những điều đó đã minh chứng triều Nguyễn là chủ nhân thực sự của vùng biển đảo Hoàng Sa.
TS. Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học Việt Nam)
Theo Biên Giới Lãnh Thổ



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Triều Nguyễn quản lý và phòng thủ cảng biển Đà Nẵng


Đà Nẵng, với vị trí chiến lược quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự an nguy của Kinh đô Huế - trung tâm chính trị, kinh tế, quốc phòng... của vương triều Nguyễn. Đây là một quân cảng và một thương cảng quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn. Cho nên, ngay sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã chú trọng xây dựng tại đây một hệ thống quản lý và phòng thủ cảng biển đặc biệt.

Triều Nguyễn quản lý và phòng thủ cảng biển Đà Nẵng

Ảnh minh họa (Internet)


Đà Nẵng càng đóng vai trò quan trọng hơn, kể từ khi vua đầu triều Nguyễn là Gia Long quy định việc đón tiếp các đoàn sứ ngoại quốc đến quan hệ với vương triều. Các tàu thuyền của phương Tây đến nước ta, nhất định phải vào cửa biển Đà Nẵng, mà không được cập bến tại bất kỳ một cửa biển nào khác. Các vua triều Nguyễn kế tiếp sau như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức... đều nhất quán thực thi luật định này một cách nghiêm túc.
Vào năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), nhằm ngăn ngừa việc xâm nhập trái phép của các tàu thuyền phương Tây và cảnh báo dân chúng ở địa phương không được quan hệ với người nước ngoài tại vùng cảng biển này, tránh mọi rắc rối, bất trắc xảy ra, triều đình ra Nghị định: Tấn Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam, từ nay trở về sau, các thuyền nước ngoài như thuyền của nước Pháp, nước Anh đến đậu ở tấn ấy, thì phải báo trước. Cấm nhân dân ở tấn và nhân dân địa phương ấy không được tự tiện riêng tây đi lại dắt díu với họ, hoặc đến nỗi gây ra sự việc.
Tháng 10-1835, có chiếc thuyền bọc đồng của thương nhân người Thanh đỗ ở đảo Nam Dữ thuộc tỉnh Hà Tiên, trong thuyền có người Hồng Mao (nước Anh) chở nhiều loại hàng hóa và súng điểu thương, súng mã thương ngắn xin được vào buôn bán và nộp thuế. Minh Mệnh biết tin, lập tức ban Dụ nhắc nhở quan đầu tỉnh Hà Tiên phải nghiêm chỉnh luật lệ của triều đình, kiên quyết không được vi phạm luật pháp: Thuyền của Tây dương chỉ được vào đỗ ở bến Đà Nẵng, không được đến buôn bán ở các cửa biển khác. Phép nước rất nghiêm, há nên để cho vi phạm. Vậy nên mau rút ra khỏi, không cho vào cửa biển.
Vua Thiệu Trị lên nối ngôi, cũng đặc biệt quan tâm đến việc an ninh cảng biển tại Đà Nẵng, từng đưa ra những quy định chặt chẽ quản lý người phương Tây đến buôn bán tại đây. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) ban ra Nghị chuẩn cho tàu thuyền nước ngoài khi khai báo hàng hóa phải ghi rõ toàn bộ số người đi trên thuyền, số lượng súng ống, khí giới mang theo, được phép lên bờ mua bán lương thực, chất đốt tại những địa điểm nhất định: Lấy củi thì lấy ở núi Trà Sơn, gánh nước thì gánh ở chợ Hoàn và chỉ cho đi trong số 10 người, không được mang binh khí lên bờ. Nghị chuẩn nhấn mạnh: Thuyền nước ngoài đến đậu ở cửa tấn không được đi lại riêng với người nước ta, ngầm thông tin và không được cho người nước ta đến thuyền, để đến nỗi gây ra chuyện. Nếu ai trái lệnh thì do viên tấn lập tức bắt trị tội.
Nhằm tăng cường hiệu quả của hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, vương triều Nguyễn đã tập trung xây dựng một loạt căn cứ quân sự với những thành trì, đồn lũy được bố trí tại mặt Bắc và mặt Nam cảng biển Đà Nẵng. Năm 1813, vua Gia Long cho Đắp đài Điện Hải bên tả, bảo An Hải ở bên hữu cửa biển Đà Nẵng. Số lượng quân lính được phân về phòng giữ ở hai pháo đài lúc đầu là 500 người. Viên quan đứng đầu ở mỗi thành là Thành thủ úy.
Triều đình quan tâm dự bị đầy đủ và bổ sung trang thiết bị, vũ khí để hai pháo đài có thể thường trực chiến đấu. Năm 1829, Minh Mệnh ban Dụ cho bộ Binh: Pháo đài Trấn Hải ở Kinh sư, pháo đài Điện Hải ở Quảng Nam, đều là chỗ xung yếu, nên dù lúc vô sự, việc canh phòng cũng không thể bỏ qua. Bộ ấy nên truyền bảo quan binh trú phòng ở hai pháo đài ấy, hết thảy súng đạn, khí giới, quân nhu lúc nào cũng dự bị đầy đủ để phòng lúc bất ngờ.
Đến cuối triều Minh Mệnh, hệ thống bố phòng với những vũ khí hiện đại đã được xây dựng khá hoàn chỉnh tại các pháo đài trên. Tháng 7-1840, Nguyễn Công Trứ đương giữ chức Hữu Tham tri bộ Binh (tương đương Thứ trưởng Thường trực Bộ Quốc phòng) theo lệnh của vua Minh Mệnh đi thanh tra hệ thống phòng thủ Đà Nẵng.
Khi về, Nguyễn Công Trứ trình bày hiện trạng và kiến nghị, bổ sung tăng cường lực lượng thủy quân cho hai thành Điện Hải và An Hải: Các thuyền hiệu Thụy Long, Phấn Bằng, Thanh Loan mỗi thuyền nên phái thêm 100 thủy binh, 100 súng trường (điểu thương), 10 khẩu đại bác, 15 cây giáo dài. Nhà vua không những đồng ý mọi kiến nghị của quan bộ Binh, mà còn cấp thêm 10 thuyền bọc đồng cho hai thành Điện Hải và An Hải, đồng thời bổ sung 500-600 quân cho lực lượng của Tuần phủ Quảng Nam, để hỗ trợ bảo vệ hai thành trên.
Năm 1823, Minh Mệnh cho xây dựng một căn cứ quân sự ở phía Tây Bắc Đà Nẵng, được đặt tên theo ngọn núi là pháo đài Định Hải, huyện Hòa Vang. Pháo đài này có chu vi 23 trượng 3 thước, cao 5 thước 8 tấc, có một cửa, trên lập kỳ đài (cột cờ), bố trí mấy khẩu đại bác.
Vùng địa phương phía Đông Bắc Đà Nẵng cũng được triều Nguyễn xây dựng pháo đài và thành lũy. Pháo đài Phòng Hải tại Mỏ Diều, thuộc xã Mân Quan, huyện Diên Phước được lập ra nhằm liên kết, hiệp tác với những chiến thuyền lớn đậu trên biển, khi lâm trận có thể dễ dàng ứng cứu lẫn nhau.
Sau sự kiện quân Pháp tấn công, bắn chìm 5 chiến thuyền bọc đồng của triều Nguyễn tại Đà Nẵng, vua Thiệu Trị càng đặc biệt chú ý tới hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, lệnh cho triều thần đặt 7 đồn, bố trí hỏa lực mạnh, thường gọi là "Trấn Dương thất bảo'' thuộc vùng biển Quảng Nam.
Đại Nam thực lục chép: Vua sai quan tỉnh là Mai Công Ngôn... lại ở tả hữu nơi Diên Chủy (Mỏ Diều) và Trà Sơn, xây dựng 7 đồn... Từ lãnh binh, quản vệ, quản cơ... đến biền binh, ai phải đóng lâu để làm việc, đều được thưởng trước 1 tháng lương bằng tiền. Đồng thời, nhà vua còn cho trích kho 32 vạn cân đồng để đúc thêm súng đại bác tăng cường cho Đà Nẵng và một số cửa biển khác (như Thị Nại, Cần Giờ...).
Năm 1857, theo lời tâu của Đào Trí, Tổng đốc Quảng Nam xin lập một đồn (bảo) lớn trên đỉnh núi ở cửa biển Đà Nẵng; vua Tự Đức đã cho xây: Đồn Trấn Dương ở đỉnh núi (Sơn Trà), để 20 khẩu đại bác, từ thành An Hải đến Sơn Trà, từ thành Điện Hải đến cửa Thanh Khê đều đắp lũy cát, trồng gai góc ngăn giữ.
Phía Bắc Đà Nẵng chính là phía Nam của Kinh đô Huế, cũng là một hướng mà triều Nguyễn thấy cần thiết phải xây dựng vững chắc để hoàn thiện cho hệ thống phòng ngự cảng biển Đà Nẵng. Đài Phong Hỏa trên đảo Sơn Trà có nhiệm vụ đốt lửa báo hiệu khi phát hiện ra tàu thuyền của giặc đi vào Đà Nẵng. Dưới chân núi phía Nam Hải Vân, có đồn Chân Sảng, tiếp theo là pháo đài Định Hải, phía Nam pháo đài này là tấn Cu Đê.
Tuyến đường bộ phía Bắc Đà Nẵng cũng là một trọng tâm trong hệ thống phòng ngự Đà Nẵng. Vua Minh Mệnh đã cho xây dựng Hải Vân quan trên đỉnh đèo Hải Vân, tu sửa lại con đường qua ải Hải Vân, đưa dân đến sinh sống ở ven đường quan ải.
Triều Nguyễn, ngoài việc tăng cường sức mạnh quân sự, an ninh cho hệ thống cảng biển Đà Nẵng, còn rất quan tâm đến việc cải tiến và tăng cường hiệu quả hoạt động của cảng Đà Nẵng như lập quy chế về kiểm soát tàu thuyền ra vào bến cảng Đà Nẵng, cải tiến hệ thống thông tin liên lạc...
Hệ thống phòng thủ cảng biển Đà Nẵng được triều Nguyễn đầu tư và xây dựng khá kiên cố, với trang bị vũ khí mạnh đã phát huy tích cực khả năng chặn đánh quân xâm lược. Vào năm 1859, quan quân triều đình và nhân dân tại Đà Nẵng đã chiến đấu anh dũng, ngăn chặn được cuộc tiến công rầm rộ, muốn đánh nhanh thắng nhanh vào kinh thành Huế của quân Pháp do Đô đốc Rigault de Genouilly (tháng 9-1859, Đô đốc Page sang thay thế) chỉ huy. Thắng lợi của cuộc chiến đấu quả cảm này đã khiến quân viễn chinh Pháp bị cầm chân, vây chặt tại mặt trận Đà Nẵng và hoàn toàn thất bại trong mưu đồ lấn chiếm ViệtNam.
TS. Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học Việt Nam)
Theo   Biên Giới Lãnh Thổ




Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Đội Tuần dương quân đầu tiên của Việt Nam


Thời kỳ vua Tự Đức trị vì (1858-1883), giặc biển hoành hành trên nhiều vùng biển thuộc hải phận nước ta và trở thành ''vấn nạn" của triều Nguyễn. Đặc biệt, cướp biển Tầu Ô đã hoạt động một cách công khai, ngang nhiên ngăn chặn các tàu vận tải, tàu buôn đi lại trên vùng Biển Đông. Quan trị nhậm tại các tỉnh ven biển như Hải Dương, Quảng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An... liên tục nhiều năm dâng sớ cấp báo tình hình cướp biển đe dọa, tấn công địa phương mình.

Đội tuần đương đầu tiên của Việt Nam - Blog tin tức-chính luận-biển đảo


Để đối phó với thực trạng căng thẳng này, triều Nguyễn cử các tàu chiến bọc đồng và cả tàu thủy chạy bằng hơi nước với đầy đủ quân lính trang bị vũ khí thường xuyên tuần tiễu trên biển và hỗ trợ các địa phương. Tháng 2 năm Tự Đức thứ 18 (1865), giặc biển đem hơn 50 chiến thuyền cùng súng và khí giới tràn vào ngoài khơi vùng biển Biện Sơn, Thanh Hóa, quan dân tại đây đã nỗ lực, song do thuyền đi tuần ít, lại thô sơ không đủ sức chống lại, nên phải gấp rút xin triều đình đưa thêm thuyền và quân lính tới giúp. Nhà vua phái ngay hai chiếc thuyền đồng là Thần Giao (vốn chuyên trách việc tuần tiễu từ Quảng Trị, Quảng Bình đến Quảng Nam) và Tĩnh Dương (phụ trách tuần tiễu từ Hà Tĩnh đến Nam Định) cùng 3 chiến thuyền khác đến ngay Thanh Hóa hội họp đánh giặc. Kết cục, thuyền Thần Giao bị đánh đắm, viên Quản cơ Nguyễn Trì cùng hơn 100 lính bị chết đuối. Cùng năm 1865, giặc biển lại quấy rối, cướp bóc nhiều địa phương khác như Cửa Quyền (Nghệ An), Cửa biển Hải Vân...
Năm 1871, đám giặc Hoàng Tề liên hệ với đảng giặc Tô Tứ đưa bọn giặc người Tàu cùng hơn 70 chiếc thuyền đến đậu tại vùng biển Cát Hải, Hải Phòng, lợi dụng cơ hội tràn vào trong sông cướp hại nhiều lần. Triều đình lệnh cho các tàu máy hơi nước Mẫn Thỏa, Đằng Huy và tàu bọc đồng Tĩnh Hải, Tường Nhạn tập trung để dẹp giặc.
Vua Tự Đức lo lắng trước tình trạng cướp biển ngày càng gia tăng, đã ban Sắc cho bộ Binh nhắc nhở các quan Đại thần phụ trách phải lưu ý tăng cường bổ sung thêm các tàu thuyền của triều đình cũng như tại các địa phương: Các tỉnh đạo ven biển có rất nhiều thuyền giặc... mà bờ biển dài suốt, chỗ nào cũng có dân ở, đề phòng thời khó được chu toàn, bỏ mặc cũng không được. Gần đây, các thuyền đồng Thần Giao và thuyền đi tuần cũng bị hỏng một lúc, ta thường bận lòng nghĩ ngợi. Hiện nay, thuyền ở Kinh thiếu nhiều, chỉ còn vài ba chiếc, chẳng được việc gì, nên do các tỉnh đem binh thuyền tự giữ lấy, tùy theo số giặc ra biển chặn đánh... hoặc sức cho các tỉnh lựa chọn những thuyền đi buôn hay đánh cá, ngầm phục biền binh súng ống, khí giới, giả dạng làm thuyền buôn, độ 2-4 chiếc đi thành một hàng, dụ họ vào cửa biển, duy ở người ta khéo sắp xếp là được.
Từ thực tế chiến trận cùng với nhận xét của chính vua Tự Đức, có thể nhận thấy thủy quân thời kỳ này còn yếu và lạc hậu, nên không thể thực hiện việc truy quét hải tặc và hỗ trợ hiệu quả cho các thuyền buôn và vận tải khi gặp nạn. Sách Đại Nam thực lục đã ghi lại không ít lần thủy quân triều Nguyễn phải chịu thua thiệt trước sức tấn công mạnh mẽ của lực lượng này. Quy mô, số lượng các lần tấn công của giặc biển ngày càng lớn, đã có lần chúng đưa vài trăm thuyền tới tham chiến, như năm 1865, có hơn 300 thuyền từ các đảo Phù Long, Cát Bà (tỉnh Quảng Yên), chia làm 3 chi đến quấy nhiễu. Triều đình đã phải thuê nhờ các lực lượng bên ngoài giúp đỡ, Bành Đình Tú chỉ huy đội thuyền triều Thanh cũng từng đưa quân sang tiễu trừ giặc biển theo yêu cầu triều Nguyễn. Ngay vua Tự Đức có lần cho rằng, bọn giặc biển quấy nhiễu lan tràn, muốn thuê tàu máy của người Pháp giúp việc đánh dẹp.
Trong triều đình Tự Đức lúc này, có những đại thần rất quan tâm chú trọng tới việc phát triển giao thông đường thủy trong sông và ngoài biển, mở rộng buôn bán với các nước. Vì thế, nhiệm vụ tiễu trừ giặc biển trở thành một nhiệm vụ hàng đầu, bức thiết cho cả triều đình. Bùi Viện là một viên quan có suy nghĩ sâu sắc, tâm huyết với công cuộc phòng thủ trên biển.
Vào năm 1876, Bùi Viện đã dâng một bản Tấu lên vua Tự Đức đề nghị thành lập một ''đội hải quân đi tuần khắp miền duyên hải nước ta" với chức trách cụ thể là "vận tải lương tiền của nhà nước, hộ vệ các nhà buôn và trừ diệt những giặc bể còn đương hoành hành ở Biển Đông". Giữa lúc tình hình trên biển đang ''nóng'' và chưa tìm được giải pháp, thì những lời tâu chan chứa nhiệt tình của Bùi Viện đã lập tức được đương kim hoàng đế chấp thuận. Triều Nguyễn giao cho Bùi Viện chức Tham biện thương chính kiêm Tuần hải nha Chánh quản đốc. Ông đã tổ chức và trực tiếp chỉ huy đội Tuần dương quân trong nha Tuần hải, với nhiệm vụ chính là tuần tiễu, phòng vệ trên biển, chặn đánh hải tặc, bảo vệ các tàu thuyền buôn và vận tải trong, ngoài nước đi lại trong vùng biển quốc gia.
Nhằm giữ nghiêm kỷ cương phép nước, chỉnh đốn tổ chức, ngoài những quy định chung trong thủy quân, Bùi Viện lại đặt thêm luật lệ gồm 12 điều cho lực lượng Tuần dương quân. Lực lượng này được chia thành hai bộ phận: Thanh Đoàn và Thủy Dũng với những trang phục khác nhau để phân biệt. Trong đó, bộ phận Thanh Đoàn đội mũ vải, mặc áo nẹp xanh và Thủy Dũng đội nón dấu, mặc áo nẹp đỏ. Các tàu thuyền chiến tham gia đội quân này được gọi là thuyền Tuần dương. Tuần dương quân còn được bố trí tại các chi điếm của nha Tuần hải ở nhiều thương cảng, cửa biển trọng yếu trong nước.
Từ khi thành lập, Tuần dương quân đã phát huy được sức mạnh của một đội thủy quân triều đình gìn giữ cương giới biển. Đội quân này từng giao chiến nhiều trận với giặc biển Tầu Ô, có lần truy kích chúng đến tận đảo Hải Nam, Trung Quốc. Từ đó, bọn cướp biển không dám liều lĩnh xâm phạm vùng biển nước ta như trước nữa. Dần dần các tuyến hàng hải trở lại yên ổn, an ninh biển đảo được giữ vững, các cửa biển trở nên sầm uất hơn, thương thuyền ra vào trao đổi hàng hóa ngày một nhiều. Việc buôn bán trong Nam ngoài Bắc được phát đạt, cũng nhờ thế việc thông thương qua đường biển với các nước ven biển được đẩy mạnh.
Hoạt động của đội Tuần dương quân đang được phát triển theo chiều hướng thuận lợi và mang lại hiệu quả tích cực cho triều đình, thì không may, Bùi Viện đột ngột mắc trọng bệnh và mất tại Kinh thành Huế vào cuối năm 1878. Lực lượng Tuần dương quân từ khi ông từ trần, không được tiếp tục củng cố và hoàn thiện, thậm chí sau này không còn thấy xuất hiện và tồn tại nữa. Nguyên nhân chính là khó tìm thấy một vị quan triều Nguyễn đương thời có tâm huyết và tài năng như Bùi Viện, để có thể chỉ huy đội thủy quân tuần tiễu trên biển. Các bạn cùng làm quan trong triều và dân chúng rất thương tiếc ông. Nguyễn Tư Giản đã có đôi câu đối viếng nói lên ý chí nguyện vọng sinh thời của Bùi Viện:
Kiếp sau chưa dứt niềm Nhà nước/Chí lớn đành đem gửi biển non.
TS. Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học Việt Nam)




Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH

Chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa theo luật pháp quốc tế


Tác giả : Vân Thanh

Do Trung Quốc và Đài Loan sử dụng các luận cứ tương tự cho yêu sách của mình đối với hai quần đảo, chúng tôi sẽ trình bày chung các luận cứ này trong phần dưới đây.

Chứng cứ về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa - Blog tin tức,chính luận,biển đảo

1. Luận thuyết của Trung Quốc dựa trên quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hữu hiệu đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius)
Trung Quốc khẳng định họ đã phát hiện ra các quần đảo sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II trước CN). Tuy nhiên, để chứng minh cho luận cứ này, Trung Quốc đưa ra các tài liệu không phải là chính sử được viết bởi các cơ quan nhà nước. Theo Nguyễn Hồng Thao, “phần lớn chúng là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa lý của người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn tới lãnh thổ của các nước khác.” Hơn nữa, phần lớn các tài liệu nói đến các quần đảo với những tên gọi rất khác nhau, làm cho mọi xác minh không được chắc chắn.

Mặt khác, tác giả Phạm Hoàng Quân cho biết, theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa toàn thư do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm 1706, trong phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính), các địa đồ như Chức Phương tổng bộ đồ (địa đồ số 1), Quảng Đông cương vực đồ (địa đồ số 157), Quỳnh Châu phủ cương vực đồ (địa đồ số 167) đều không ghi nhận các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam ngày nay. Theo Quảng Đông thông chí vẽ đời Gia Tĩnh (1522-1566) thì phần hải đảo cũng chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam).
Trung Quốc cũng sử dụng những bằng chứng về khảo cổ và việc tìm thấy vết tích tiền và đồ cổ từ thời Vương Mạng để khẳng định sự có mặt của ngư dân Trung Quốc trên các quần đảo. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác của ngư dân Trung Quốc là các hoạt động tư nhân, không mang lại hiệu lực pháp lý của quyền chiếm cứ hiệu quả mà luật quốc tế đòi hỏi.
Để chứng minh việc thực thi chủ quyền trên các quần đảo từ lâu đời, Trung Quốc đưa ra các sự kiện sau:
- Các cuộc tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa từ thời nhà Tống (960-1127). Khẳng định này dựa trên cơ sở Vũ Kinh tổng yếu (chương trình chung về quân sự có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông). Theo Monique Chemillier-Gendreau, tài liệu này chỉ cho thấy có các đó là các hành trình thăm dò địa lý tới tận Ấn Đô Dương, và xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Hoàng Sa nhưng không minh chứng một sự chiếm hữu nào.
- Vào thế kỷ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên ra lệnh cho nhà thiên văn học Quách Từ Kính thực hiện các quan trắc thiên văn, trong đó có một số quan trắc từ Hoàng Sa. Tuy nhiên, các quan trắc này được thực hiện một phần trong lãnh thổ Trung Quốc, một phần ngoài lãnh thổ, mang tính chất nghiên cứu khoa học, không đủ để tạo nên danh nghĩa chủ quyền.
- Vào khoảng các năm 1710-1712, phó tướng thủy quân Quảng Đông là Ngô Thăng đã thực hiện một cuộc tuần biển đến Hoàng Sa. Tuy nhiên, theo Monique Chemillier-Gendreau, xem xét trên bản đồ thì lộ trình đi tuần chỉ là một con đường vòng quanh đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa.
- Năm 1883, khi tàu của Đức thực hiện nghiên cứu khoa học tại quần đảo Trường Sa, chính quyền Quảng Đông đã phản đối. Nhưng khi danh nghĩa của một nhà nước chưa được xác lập vững chắc và lâu dài, việc phản đối này chỉ mang tính chất ngoại giao và không có giá trị pháp lý.
Các bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả hai quần đảo rõ ràng là rất ít ỏi, không vững chắc và không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của luật quốc tế. “Chúng không chứng minh được một sự chiếm cứ thông thường, một sự quản lý hành chính hữu hiệu sự kiểm soát chủ quyền”.
Cân nhắc các luận cứ lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc về quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hiệu quả, giáo sư người Pháp Yves Lacoste cho rằng: “dù sao đi nữa, luận cứ của Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn luận cứ của Trung Quốc.”
2. Các luận cứ của Trung Quốc trong thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có những nỗ lực đầu tiên để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1909, đô đốc Trung Quốc là Lý Chuẩn thực hiện một cuộc đổ bộ nhỏ (trong 24 giờ) lên quần đảo này. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. (Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?). Nước Pháp đại diện cho An Nam không có phản ứng gì trước cuộc đổ bộ này vì họ cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân dịp chuyến thám sát.
Năm 1921, chính quyền dân sự Quảng Đông sát nhập hành chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước vì khi đó chính quyền Quảng Đông không được cả chính phủ trung ương Trung Quốc lẫn các cường quốc công nhận.
Năm 1937, trước sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương”, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan).
Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật chiếm đóng.
Như vậy, cho đến khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, ngoài nỗ lực ban đầu trong việc biểu thị chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không thể hiện được một sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính hiệu quả trên các đảo. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn không hề có một ảnh hưởng nào.
3. Thời kỳ sau 1945
Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản rút khỏi Đông Dương và các quần đảo. Sau khi Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6 năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) vào tháng 1 năm 1947. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm cho đến khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đóng quân sự vào năm 1974.
Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền.
Tháng 10 năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5 năm 1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.
Tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa quân đến thay thế các đơn vị của Pháp tại Hoàng Sa. Nhưng khi đó chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã kín đáo cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh).
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm này (tháng 1 năm 1974) „Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó.”
Tháng 2 năm 1988, Trung Quốc gửi quân đội đến một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Tháng 3 năm 1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm 6 đảo của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Trung Quốc là quốc gia duy nhất yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa nhưng trên thực tế không kiểm soát bất cứ đảo nào cho mãi đến tận năm 1988.
Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 5 năm 1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.
Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ của Phillippines trên quần đảo Trường Sa.
Có thể thấy phương pháp chủ yếu của Trung Quốc là dùng vũ lực để chiếm hữu các đảo. Tuy nhiên, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24 tháng 10 năm 1970 cũng đã ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp.” Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
4. Các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giá trị pháp lý:
Trung Quốc luôn lập luận rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian chiến tranh 1954-1975. Các tuyên bố đó là:
- Ngày 15 tháng 6 năm 1956 thứ trưởng Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với thường vụ viên của đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội rằng các quần đảo này về mặt lịch sử là một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra được biên bản cuộc họp mà họ cho rằng trong đó Ung Văn Khiêm đã nói điều trên.
- Công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 tán thành tuyên bố về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc mà không có bảo lưu gì đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Ngày 9 tháng 5 năm1965, khi Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam và ấn định những vùng chiến thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Tuy nhiên, các tuyên bố của VNDCCH có khiến cho nước Việt Nam thống nhất sau 1975 mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không đòi hỏi những nghiên cứu sâu hơn về luật quốc tế. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt quan điểm của mình.
Trong thời gian chiến tranh 1954-1975 có hai quốc gia Việt Nam đồng thời tồn tại là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam. Đây cũng là quan điểm của nhiều luật gia quốc tế như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin.
Sau Hiệp ước Geneve năm 1954, dựa theo nhận thức và thực tế quản lý của hai quốc gia, quốc gia kế thừa chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là VNCH. Trên thực tế, như đã nêu ở phần trên, VNCH đã liên tục kiểm soát, quản lý hành chính và khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo cho đến tận khi bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc quản lý quần đảo Trường Sa vẫn tiếp tục được duy trì đến thời điểm 30 tháng 4 năm 1975.
Công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 cũng như các tuyên bố khác của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Các hành vi của VNDCCH cùng lắm chỉ có thể gây ra các ràng buộc và hiệu quả pháp lý cho chính mình mà thôi. Vậy các ràng buộc và hiệu quả pháp lý đó có thể là gì?
Các tuyên bố của VNDCCH là hành vi đơn phương. Theo luật quốc tế, một hành vi đơn phương hay một lời hứa cần có những điều kiện trước khi có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Các điều kiện chính là: a) cần xét đến bối cảnh của hành vi tuyên bố đó; b) bên có tuyên bố cần thể hiện rõ ràng ý chí muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố của mình; c) bên kiện quốc gia tuyên bố phải có hành động dựa vào tuyên bố đó và phải chứng minh mình đã bị thiệt hại do tuyên bố đó, hoặc quốc gia tuyên bố đã hưởng lợi từ tuyên bố này. Ngoài ra, nhiều bản án của Tòa án Công lý Quốc tế còn đòi hỏi các tuyên bố này phải mang tính chất liên tục và trường kỳ.
Có thể dễ dàng thấy rằng các tuyên bố của VNDCCH thiếu hầu hết các điều kiện để có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Trung Quốc không có hành động nào dựa vào tuyên bố của VNDCCH và VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì từ các tuyên bố đó.
Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.



Tre Làng-Loa Phường-Tiên Lãng-Tiếng nói-Đất mẹ-Việt Nam-Dân Việt-Tuổi trẻ-Nhân dân-QĐND-VNCH